--%>
Đánh giá chất lượng tài nguyên đất và nước tại xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An nhằm định hướng sử dụng bền vững
Tài nguyên đất và nước đang chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu và con người và biến đổi khí hậu. Nậm Cắn là xã biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, là địa bàn sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong đó người H’mông chiếm đến 70%. Tài nguyên đất và nước đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân địa phương nhưng vẫn còn ít được quan tâm và sử dụng thiếu bền vững.
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Nam Định
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại thành phố (TP) Nam Định, tỉnh Nam đĐịnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn TP. Nam Định, lượng CTRSH có lượng phát sinh khoảng 186 200-210 tấn/ngày đêm tấn/ngày, đêm.
Bước đầu nghiên cứu xác định hàm lượng cacbon (DOC, POC) và đánh giá về sự chuyển tải trong môi trường nước vùng cửa sông Bạch Đằng (Hải Phòng)
Vùng cửa sông Bạch Đằng có tọa độ địa lý: 106°37' - 107°00' E và 20°37' - 21°00' N với diện tích trong ô tọa độ là 1.650 km2. Hàm lượng DOC trong nước tại các điểm khảo sát đợt 1 (tháng 7/2019) dao động từ 0,593 đến 3,821 mgC/l, giá trị trung bình đạt 1,850 mgC/l; đợt 2 (tháng 10/2019) dao động từ 0,354 đến 0,594 mgC/l, giá trị trung bình đạt 0,455 mgC/l; bước đầu tính toán tải lượng DOC trong môi trường nước vùng cửa sông Bạch Đằng là 70,39 tấn C/ngày » 25692 tấn C/năm.
Áp dụng phân tích AHP và điểm chỉ số rủi ro RIS để đánh giá các mối nguy cơ chính gây ra sự cố môi trường công nghiệp
Với sự phát triển nhanh cả về số lượng và hàng loạt loại hình công nghiệp kéo theo những mối nguy gây ra sự cố môi trường ngày càng gia tăng, do đó,việc xác định và phân bậc các mối nguy hữu ích trong quản lý rủi ro công nghiệp, tránh, giảm thiểu tác động tiêu cực đến con người và môi trường.
Một số vấn đề an ninh phi truyền thống mới nổi trong bối cảnh chuyển đổi sinh thái - xã hội
Sau gần 30 năm phát triển theo hướng bền vững, sự phát triển của thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn chưa bền vững. Chúng ta vẫn cần phải chuyển đổi nền kinh tế - sinh thái - xã hội để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là về mặt xã hội và sinh thái.
Hiện trạng quản lý các hoạt động nạo vét cảng biển, nhận chìm và bài học kinh nghiệm quản lý của các nước
Bài báo đánh giá hiện trạng và ưu nhược điểm của việc nạo vét của các cảng biển, nhận chìm khu vực biển Việt Nam, hiện trạng công tác quản lý và bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý các hoạt động nạo vét, nhận chìm từ các nước trên thế giới.
Nhận diện các yếu tố tác động đến sức khỏe từ hoạt động của dự án sản xuất xi măng
Việc nhận diện các yếu tố tác động đến sức khỏe của dự án sản xuất xi măng là cơ sở đề xuất các giải pháp can thiệp, quản lý rủi ro từ quá trình triển khai dự án, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động và cộng đồng.
Giải pháp triển khai Hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung cấp tỉnh - thành phố và khả năng ứng dụng để triển khai Hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường Quốc gia
Một số tỉnh - thành phố đã thay đổi cách tiếp cận trong việc triển khai các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đó là thiết lập một hệ thống cơ sở dữ liệu đa ngành tập trung và dùng chung trên phạm vi toàn tỉnh - thành phố.
Đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng - Kinh nghiệm một số nước và hướng áp dụng cho Việt Nam
Đánh giá tổn thất và thiệt hại bao gồm phân tích, lượng giá các tổn thất đã xảy ra trong quá khứ hoặc dự báo, ước tính các thiệt hại liên quan đến biến đổi xảy ra trong tương lai.
Đồng bộ hóa quản lý kỹ thuật trong xử lý rác và nước thải sinh hoạt trong khu dân cư tại Hà Tĩnh
Văn phòng điều phối NTM tỉnh phối hợp với Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu và thực hiện thí điểm Đề tài “Đồng bộ hóa quản lý kỹ thuật trong xử lý rác và nước thải sinh hoạt trong khu dân cư”, với công nghệ đơn giản, dễ áp dụng, chi phí thấp, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực.
Đánh giá tác động đến đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật khi thực hiện Dự án: Đầu tư xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần và logistics thuộc khu kinh tế Đông Nam tỉnh Quảng Trị
Dự án Đầu tư xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần và logistics thuộc khu kinh tế Đông Nam tỉnh Quảng Trị được thực hiện để xây dựng các công trình trên 2 khu đất với tổng diện tích 97,54ha trong đó khu 1 có 47,7ha; khu 2: 49,84ha.
Nghiên cứu đánh giá phát thải tại làng nghề tái chế nhựa Triều Khúc và đề xuất giải pháp
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kiểm toán giảm thiểu chất thải để đánh giá mức phát thải của chất thải rắn (CTR), nước thải và khí nhà kính (KNK) của bốn loại hình thu gom và tái chế nhựa tại làng nghề nhựa Triều Khúc.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác quặng bauxite Tây Nguyên
Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác quặng bauxite, hướng tới đảm bảo hài hòa lợi ích và phát triển bền vững khu vực Tây Nguyên.
Đề xuất phân vùng chức năng môi trường huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
Quy hoạch BVMT (QHBVMT) là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển bền vững lãnh thổ, là một phần của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) thân thiện với môi trường. QHBVMT nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa BVMT và phát triển kinh tế. Bài viết nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh dựa trên việc phân tích tổng hợp các yếu tố tự nhiên, môi trường và KT-XH, qua đó phân chia lãnh thổ huyện thành 3 vùng và 13 tiểu vùng chức năng môi trường.
Phương pháp tính giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất một số giải pháp
Thị trường dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trong thời gian qua phát triển nhanh, thu hút sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài và DN trong nước. Hiện cả nước có khoảng 105 đơn vị xử lý chất thải áp dụng các loại công nghệ khác nhau, trong đó công nghệ lò đốt công suất nhỏ (42%), nhà máy ủ phân compost (24%), cơ sở kết hợp ủ phân compost và lò đốt (24%), công nghệ khác (10%).
Ứng dụng mô hình trị số 3D tính toán lan truyền bùn trong các bài toán nhận chìm phục vụ công tác bảo vệ môi trường tại các cảng biển
Trong bài viết này ứng dụng mô hình số trị 3D nhằm tính toán khuếch tán, lan truyền bùn trong quá trình nhận chìm tại khu vực cảng Duyên Hải, Trà Vinh.
Tính các đặc trưng sóng, dòng chảy và mực nướckhu vực cửa sông hồng, văn úc và bạch đằngtừ số liệu đo đạc trong chuyến khảo sát tháng 7, 8 năm 2019
Trong nghiên cứu này, các chuỗi số liệu quan trắc sóng, dòng chảy và mực nước có độ chính xác và tin cậy cao tại các cửa sông Hồng, Văn Úc và Bạch Đằng trong chuyến khảo sát tháng 7, 8 năm 2019 được sử dụng để tính toán một số đặc trưng của các yếu tố này. Kết quả tính toán thu được bộ hằng số điều hòa để dự tính thủy triều cho ba cửa sông, tính mực nước triều cực trị chu kỳ 19 năm.Bước đầu đưa ra công thức thực nghiệm hàm tương quan giữa các tham số sóng Hs và Hmax tại ba cửa sông với hệ số tương quan tốt và có thể ứng dụng cho tính toán tại khu vực này.
Nghiên cứu áp dụng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông cửu long - thí điểm tại một huyện điển hình
Nghiên cứu đã tiến hành xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình kinh tế cấp huyện thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH); và tiến hành áp dụng thí điểm cho mô hình lúa - cá tự nhiên tại xã Bình Thạnh, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Bộ tiêu chí được đề xuất với 6 nhóm tiêu chí chính và 25 chỉ số tương ứng với tổng điểm tối đa là 100 điểm; trong đó tiêu chí 1 về hiệu quả kinh tế (chiếm 55%) là mục tiêu quan trọng nhất, và tiêu chí 4 về mục tiêu thích ứng với BĐKH (chiếm 16%).
Mô phỏng sự biến thiên của axit béo dễ bay hơi trong hệ yếm khí xử lý nước thải chăn nuôi lợn
Trong nghiên cứu này, hệ xử lý yếm khí vật liệu mang vi sinh chuyển động (AnMBBR) với thể tích làm việc 12L đã được sử dụng để xử lý nước thải chăn nuôi (NTCN) lợn sau bể biogas từ một trang trại ở Vĩnh Phúc (quy mô 3.000-5.000 đầu lợn). Các dữ liệu thực nghiệm được mô phỏng bằng phần mềm Matlab sử dụng mô hình yếm khí ADM1. Qua đó đã chỉ ra kết quả thực nghiệm và kết quả mô phỏng có sự tương thích, mô hình sử dụng phù hợp với đối tượng NTCN lợn nói riêng và nước thải giàu hữu cơ nói chung.
Kinh nghiệm giám sát môi trường dựa trên việc tích hợp công nghệ GIS vào hệ thống quản lý "Thành phố thông minh" tại Liên bang Nga và bài học cho Việt Nam
Khái niệm “Thành phố thông minh” được hình thành bởi một số yếu tố. Nhưng về cơ bản, theo Ủy ban Châu Âu, có 6 lĩnh vực quan trọng cần có là: Chính quyền điện tử, kinh tế thông minh, đi lại thông minh, môi trường thông minh, cư dân thông minh và cuộc sống thông minh.
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu TiO2 dạng ống biến tính xử lý HCHO trong không khí
Quang xúc tác được xem như một công nghệ mới, khá phát triển trong vài thập niên gần đây. Công nghệ quang xúc tác có thể đạt hiệu quả cao với chất ô nhiễm nồng độ thấp, đặc biệt thích hợp ứng dụng trong thiết bị lọc không khí trong nhà. Nghiên cứu này sử dụng xúc tác TiO2 dạng ống (TNTs) điều chế từ TiO2 thương mại (P25) bằng phương pháp thủy nhiệt để loại bỏ HCHO ở nồng độ thấp.
Nghiên cứu xử lý nâng cao một số loại nước thải bằng màng siêu lọc (UF) để tái sử dụng cho các mục đích cấp nước phi ăn uống
Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiệu quả việc áp dụng màng siêu lọc (UF) trong giai đoạn xử lý bậc cao sau quá trình xử lý truyền thống đối với nước thải sinh hoạt và nước thải khai thác than cho mục đích tái sử dụng.
Nghiên cứu phương pháp xây dựng bộ tiêu chí và tính trọng số để xác định chỉ số đánh giá khu công nghiệp các bon thấp phù hợp với điều kiện Việt Nam
Nghiên cứu khả năng ứng dụng tro bay biến tính trong xử lý nước thải nhiễm đồng
Vật liệu hấp phụ được điều chế từ tro bay biến tính bằng phương pháp nung chảy-thủy nhiệt với NaOH. Sự thay đổi hình thái cấu trúc bề mặt của hạt tro bay sau biến tính được phân tích bằng phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM). Khả năng hấp phụ ion Cu2+ trên tro bay biến tính được nghiên cứu bằng mô hình hấp phụ tĩnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ như thời gian, pH, nồng độ ban đầu của ion Cu2+ đã được khảo sát.Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hấp phụ ion Cu2+ trong nước của tro bay biến tính tăng lên rõ rệt so với mẫu tro bay thô ban đầu. Ở nồng độ ban đầu của ion Cu2+ là 50mg/L, hiệu suất hấp phụ sau khi biến tính của tro bay tăng từ 7.2% lên đến 90.2%. Hiệu quả hấp phụ Cu2+cao nhất ở giá trị pH 5÷6. Thời gian đạt cân bằng hấp phụ sau 90 phút. Khi tăng nồng độ ban đầu của dung dịch Cu2+ từ 20 mg/L đến 120 mg/L thì hiệu suất hấp phụ giảm từ 98.0% xuống 66.1%. Dung lượng hấp phụ ion Cu2+cực đại của tro bay biến tính theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir đạt 16.4 mg/g.Kết quả nghiên cứu cho thấy triển vọng ứng dụng tro bay biến tính trong xử lý nước thải nhiễm đồng.
Tri thức địa phương về di sản địa chất - một số nghiên cứu bước đầu ở khu vực Công viên Địa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)
Tri thức địa phương về di sản địa chất là một bộ phận thiết yếu của tri thức địa phương nói chung, chủ yếu liên quan đến hiểu biết của người dân địa phương, được truyền từ đời này sang đời khác, về tự nhiên và sự tương tác giữa họ với tự nhiên. Đó là một bản ghi vô giá về sự thích nghi và sáng tạo của con người trước tự nhiên. Tri thức địa phương về di sản địa chất như một cửa sổ mở cho ta nhìn về quá khứ tiến hóa và biến động của Mẹ Trái đất - nền tảng cho hiện tại và định hướng cho tương lai.
Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh
Hiện nay, bên cạnh các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch, Vườn quốc gia (VQG) đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. VQG là một khu vực đất, hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. VQG được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp của con người. VQG Bái Tử Long lưu giữ những đặc trưng của hệ sinh thái (HST) biển - đảo vùng Đông Bắc, môi trường, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú, đó chính là những tiềm năng và lợi thể để phát triển du lịch sinh thái (DLST).
Nghiên cứu loại bỏ ion Mangan (Mn) bằng tảo Chlorella Vulgaris
Tảo Chlorella vulgaris (C.vulgaris) được xem là một trong những giải pháp sinh học mang lại hiệu quả cao trong việc loại bỏ kim loại nặng trong nước thải. Mangan(Mn) là một kim loại nặng phổ biến có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Do đó, nghiên cứu này đã được thực hiện để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường khác nhau bao gồm mật độ tế bào ban đầu, nồng độ kim loại nặng ban đầu và pH đối với khả năng loại bỏ Mn của C.vulgaris. Kết quả thí nghiệm cho thấy, hiệu suất xử lý Mn của C. vulgaris đạt cao nhất 80% được ghi nhận từ môi trường có mật độ tế bào ở mật độ 10,5 x 106 tế bào/ml, nồng độ ion Mn ban đầu 35 mg/l và pH = 6.
Tri thức địa phương về di sản địa chất và vai trò của chúng đối với mô hình phát triển bền vững
Tri thức địa phương (TTĐP) là những hiểu biết, kiến thức truyền thống, kinh nghiệm dân gian về môi trường, cả tự nhiên và xã hội, của riêng một nền văn hóa, hoặc một cộng đồng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới hình thức truyền khẩu, hoặc các nghi lễ văn hóa, là nền tảng để duy trì các hoạt động thiết yếu của cộng đồng đó. Trong nghiên cứu này, sẽ trình bày khái quát về cách tiếp cận và vận dụng TTĐP trong phát triển bền vững (PTBV). Vai trò của TTĐP trong phương thức sống, quản lý tài nguyên bền vững và các mối quan hệ xã hội bền vững. Đặc biệt, TTĐP về di sản địa chất (DSĐC) vừa là đối tượng bảo tồn và phát huy giá trị, vừa là biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức cộng đồng về khoa học Trái đất.
Nghiên cứu đánh giá áp lực của nước thải từ các cụm công nghiệp đến môi trường nước mặt ở thành phố Bắc Ninh
Đánh giá hiệu quả ủ kỵ khí một giai đoạn và hai giai đoạn trong xử lý chất thải rắn hữu cơ bằng thực nghiệm
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang ngày càng gia tăng, tạo áp lực môi trường cho các đô thị nếu không được xử lý, tuy nhiên cũng là một nguồn tài nguyên dồi dào. Hiện nay, xu hướng xử lý CTR trên thế giới là giảm tỷ lệ chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế và ủ sinh học. Nhiều nhà máy xử lý CTRSH bằng phương pháp kỵ khí ở các nước châu Âu và các khu vực khác đã được xây dựng. Phương pháp ủ sinh học kỵ khí phù hợp với điều kiện Việt Nam vì thành phần CTR hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong CTRSH. Điều kiện khí hậu Việt Nam có độ ẩm cao nên phù hợp với các quá trình ủ sinh học. Chi phí xử lý bằng công nghệ ủ sinh học khá thấp so với các công nghệ khác, đồng thời giảm được lượng CTR cần chôn lấp và lượng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, tạo được sản phẩm mùn hữu cơ tốt cho đất, thu hồi được sản phẩm khí có giá trị cao.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Trang tiếp theo

Thống kê

Lượt truy cập: 3237115