--%>

    Thời gian qua, tình trạng chất lượng môi trường không khí suy giảm ở một số địa phương trên cả nước đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh nhiều. Nguyên nhân do quá trình đô thị hóa, cùng với số lượng phương tiện giao thông cơ giới tăng nhanh. Để cải thiện chất lượng không khí (CLKK), Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã hỗ trợ Việt Nam Dự án tăng cường năng lực quản lý CLKK. Tạp chí Môi trường đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Lệ Thu - Chuyên gia Môi trường cao cấp World Bank về các kết quả ban đầu của dự án và  những giải pháp cải thiện môi trường không khí ở Việt Nam.

 

Bà Nguyễn Thị Lệ Thu - Chuyên gia Môi trường cao cấp World Bank

 

PV. Bà có đánh giá như thế nào về những ảnh hưởng và tác động tới chất lượng môi trường không khí hiện nay ở Việt Nam?

Nguyễn Thị Lệ Thu: Tốc độ tăng trưởng nhanh của Việt Nam đi kèm với chi phí cao về tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường. Việc sử dụng thiếu hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra những chi phí lớn cho nền kinh tế đồng thời gây ô nhiễm không khí (ÔNKK), ảnh hưởng đến chất lượng sống của hàng triệu hộ gia đình. Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng làm gia tăng phát sinh khí thải, bụi từ các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, các hoạt động dân sinh đun nấu, sử dụng than tổ ong, đốt rác, rơm rạ… đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường không khí của các thành phố trên cả nước. Những chi phí này bằng khoảng 6-10% GDP và có nguy cơ tăng trưởng kinh tế hiện tại sẽ phải trả giá bằng chi phí của các thế hệ tương lai.

   Theo chỉ số về thành tích môi trường (EPI) 2018 do Đại học Yale và Đại học Columbia hợp tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới tính toán và công bố. Việt Nam xếp thứ 132 trong số 180 nền kinh tế về thành tích môi trường nói chung. Xét về CLKK và cường độ phát thải thì Việt Nam xếp hạng thứ 141. Tăng trưởng kinh tế ngày càng gây nhiều tác động tiêu cực về môi trường tại, đặc biệt là tại các TP như: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và những khu vực làng nghề tại nông thôn. Ở các vùng nông thôn, với tình trạng quản lý còn lỏng lẻo tại các làng nghề và cụm công nghiệp, sản xuất tại gây tác động nghiêm trọng lên môi trường không khí, môi trường đất và nước, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân.

    Trong các ngành, lĩnh vực giao thông vận tải là một trong các tác nhân gây ÔNKK khi vận tải hàng hóa và hành khách tăng trưởng 10 - 12% trong những năm gần đây dẫn đến tăng nồng độ tập trung các chất NOx, SO2, CO2 và bụi. Quá trình sản xuất điện, tiêu thụ nhiên liệu, xây dựng và các ngành công nghiệp cũng góp phần đáng kể gây ÔNKK. Nông nghiệp với việc sử dụng phân bón và chăn nuôi gia súc gây ra lượng lớn khí thải ammoniac và oxit nitơ gây ÔNKK.

    CLKK thấp và sự gia tăng của hàm lượng bụi mịn (PM2.5) gây nên những tác động nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, ÔNKK làm tăng tỉ lệ mắc bệnh hoặc tử vong sớm. Ngoài ra, ÔNKK còn ảnh hưởng lên năng suất lao động tại nơi làm việc. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này được thực hiện nhưng các nghiên cứu tại Trung Quốc, Ấn Độ cho thấy năng suất lao động đã bị sụt giảm mạnh vì ÔNKK.

   Hiện nay, Việt Nam đã triển khai giám sát CLKK ở Việt Nam tại các thành phố lớn. Trong số các TP lớn của Việt Nam, Hà Nội với hệ thống 35 trạm quan trắc không khí tự động hiện có là địa phương đi đầu cả nước trong việc lắp đặt các trạm quan trắc không khí, cung cung cấp thông tin về mức độ ô nhiễm cho người dân.

PV. Được biết, thời gian vừa qua, World Bank đã triển Dự án về tăng cường năng lực quản lý CLKK cho Việt Nam, bà cho biết về những kết quả bước đầu của Dự án cũng như lộ trình để chuyển giao dự án cho các cơ quan quản lý môi trường ở Việt Nam?

Nguyễn Thị Lệ Thu: Trong thời gian qua, World Bank đã triển khai Dự án hỗ trợ kỹ thuật giúp tăng cường năng lực quản lý CLKK cho các địa phương: TP Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Bộ TN&MT trong công tác quản lý CLKK; chuẩn bị các kế hoạch đa ngành về quản lý CLKK có hiệu quả về mặt chi phí. Thời gian triển khai Dự án (2018 - 2021), các hoạt động của hỗ trợ kỹ thuật, bao gồm:

    Hợp phần 1: Thu thập bụi PM2.5 trong một năm và sau đó tiến hành phân tích thành phần hóa học để xác định nguồn thải tại khu đô thị Hà Nội và hai tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên. Phân tích thành phần hóa học và bụi này sẽ trực tiếp góp phần vào việc thực hiện đánh giá chi tiết các nguồn ô nhiễm không khí cho khu vực Hà Nội mở rộng và sẽ tạo ra bằng chứng để kiểm định kết quả mô hình đánh giá nguồn ÔNKK (GAINS).

    Hợp phần 2: Kiểm kê nguồn phát thải và phát triển, cài đặt và phổ biến mô hình GAINS cho Bộ TN&MT và các địa phương: Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên. Hoạt động này nhằm hỗ trợ kiểm kê các nguồn phát thải ở Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh áp dụng mô hình GAINS. Mô hình GAINS được phát triển và áp dụng bởi Viện phân tích hệ thống ứng dụng quốc tế (IIASA) của Áo, nhằm tính toán, phân tích dữ liệu về các nguồn gây ÔNKK và các chất ô nhiễm gây biến đổi khí hậu. Mô hình GAINS đã giúp xây dựng chính sách và lựa chọn đầu tư tại các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu và các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan để quản lý các chất ô nhiễm được quy định trong Công ước về ÔNKK do các chất ô nhiễm xuyên biên giới.

    Mô hình GAINS đã xây dựng cơ sở dữ liệu toàn cầu, có tính đến kinh nghiệm từ các quốc gia có thể so sánh lẫn nhau, với đầy đủ các loại hình nguồn thải và các hệ số phát thải. Phân tích chính sách, mô phỏng hiệu quả chi phí và lợi ích chi phí dựa trên số lượng lớn thông tin về phát triển xã hội, phát thải theo các nguồn phát thải khác nhau, các biện pháp kiểm soát phát thải và chi phí, chỉ số CLKK, khí hậu, tác động về hệ sinh thái, sức khỏe. Mục đích sử dụng chính của mô hình này là cung cấp các tài liệu bằng chứng về các nguồn chính xác của bụi mịn PM2.5 trong không khí xung quanh mà đã được hiệu chuẩn và kiểm chứng dựa trên cơ sở quan trắc xác định nguồn thải được thực hiện ở Hợp phần 1. Qua việc hỗ trợ kỹ thuât và trên cơ sở đó xác định và tối ưu hóa các biện pháp có hiệu quả về chi phí có thể được thực hiện bởi các ngành khác nhau để đạt được mục tiêu  chất lượng không khí cần thiết. Mô hình GAINS sẽ cho phép xác định sớm những lựa chọn đầu tư trong các ngành, lĩnh vực khác nhau có thể đóng góp đáng kể cho việc cải thiện CLKK. Mô hình GAINS sẽ tiếp tục xác định và hiểu các lợi ích quan trọng của các biện pháp quản lý CLKK tại địa phương (đặc biệt là kiểm soát bụi) và trong tương quan với cải thiện sức khoẻ và biến đổi khí hậu do kiểm soát và cắt giảm được các chất ô nhiễm có thời gian lưu ngắn trong khí quyển như muội than.

    Các chuyên gia sẽ cung cấp mô hình GAINS và hỗ trợ kỹ thuật để lắp đặt tại Bộ TN&MT và các địa phương: Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh và tiến hành đào tạo ở Việt Nam và Áo cho các nhóm chuyên gia của Bộ TN&MT, TP. Hà Nội và các tỉnh tham gia.

    Hợp phần 3: Chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng không khí cho Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên. Hoạt động này nhằm hỗ trợ xây dựng dự thảo Kế hoạch Quản lý CLKK đa ngành cho Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trên cơ sở tham vấn ý kiến rộng rãi với các bên liên quan. Các nội dung của dự thảo kế hoạch sẽ bao gồm phát triển phương pháp quản lý chất lượng không khí toàn diện, đa ngành, kiểm kê nguồn thải, mô hình hoá tại nguồn tiếp nhận (sử dụng mô hình GAINS) và phân tích thành phần hóa học của bụi PM2.5, đánh giá tác động về mặt sức khỏe và xác định các biện pháp kiểm soát ô nhiễm khả thi có hiệu quả về chi phí.

    Kết quả ban đầu của  hợp phần 1 được thực hiện năm 2019 về xác định các thành phần nguồn phát thải cho thấy, trong phân tích thành phần bụi PM2.5 tại Hà Nội là các bon hữu cơ bắt nguồn từ quá trình đốt cháy. Theo số liệu của Tổng cục Môi trường năm 2019 cũng cho thấy, kết quả quan trắc trong tháng 9 CLKK bị ảnh hưởng bởi một số đợt ô nhiễm bụi PM2.5 nhưng từ tháng 8 trở về trước, CLKK tốt hơn. Từ tháng 1-2/2020 vẫn còn một số đợt ô nhiễm, bắt đầu từ nửa cuối tháng 3 đến giữa tháng 4/2020 ô nhiễm giảm hẳn (do giãn cách xã hội, nhiều hoạt động giao thông giảm).

    Đối với đốt sinh khối, chủ yếu là lượng các bon hữu cơ (OC) và levoglucosan trong khí quyển, thêm vào đó lượng Kali (K) là chỉ định cho lửa đốt, các bon nguyên tố (EC) là từ việc đốt cháy không hoàn toàn. Nồng độ thấp hơn vào tháng 8 và đầu tháng 9/2019, với khả năng là ảnh hưởng các điều kiện khí hậu, gió mùa, ít đốt. Nồng độ cao hơn vào tháng 10, 11/2019 cho thấy, ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp (đốt rơm rạ): đốt sinh khối với đỉnh chỉ thị của Kali, levoglucosan và cacbon hữu cơ OC. Nồng độ thấp hơn vào tháng 4 và tháng 5 cho thấy, các hoạt động đốt ít hơn.

    Để có thể khẳng định các kết quả phân tích ban đầu này, cần có thêm các số liệu về: Kiểm kê các nguồn thải chính của khu vực Hà Nội; các loại hoạt động công nghiệp có phát thải đáng kể lên vùng không khí của khu vực Hà Nội; các cơ sở sản xuất điện/ năng lượng và các loại nhiên liệu đã sử dụng (than, dầu hoặc các loại nhiên liệu khác); Các nhà máy đốt rác trong khu vực Hà Nội hoặc xung quanh... Các số liệu này hiện đang được tiến hành thu thập với hỗ trợ kỹ thuật và sẽ kết thúc vào tháng 12/2020.

PV: Trong thời gian tới World Bank sẽ triển khai những kế hoạch gì để hỗ trợ Việt Nam và bà có đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả cải thiện môi trường không khí  ở Việt Nam?     

Nguyễn Thị Lệ Thu: World Bank cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong quản lý CLKK và các chương trình hỗ trợ luôn hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững. Với các kinh nghiệm trong hỗ trợ các quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý CLKK, điển hình như ở khu vực thủ đô Bắc Kinh, chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận với các cơ quan của Chính phủ Việt Nam cũng như các địa phương, các TP lớn về các hỗ trợ nhằm quản lý tốt hơn CLKK.

    Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một số sáng kiến nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện môi trường không khí ở Việt Nam, bao gồm sửa đổi Luật BVMT và Kế hoạch Hành động Quốc gia về quản lý CLKK năm 2016. Những hành động này đang đi đúng hướng nhưng vẫn cần dựa trên một chiến lược quản lý CLKK toàn diện. Theo tôi, để nâng cao hiệu quả cải thiện môi trường không khí  ở Việt Nam cần phải triển khai một số giải pháp:

   Thứ nhất, khát vọng của Việt Nam đến năm 2035 là phát triển thành một xã hội thịnh vượng, có thu nhập ở mức trung bình cao với tiềm lực và vị thế của quốc gia được nâng cao. Thịnh vượng về kinh tế cần đi đôi với bền vững về môi trường. Các yếu tố chính để đảm bảo bền vững môi trường là bảo vệ chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên (không khí, đất và nước); sử dụng nhiều hơn nữa các nguồn năng lượng sạch để sản xuất điện. Quá trình tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải có các  chính sách và đầu tư thông minh từ các khu vực kinh tế nhằm tính đầy đủ các phí tổn về môi trường trong đầu tư; một cơ sở thông tin và dữ liệu dễ tiếp cận phục vụ quá trình giám sát các tác động gây ô nhiễm môi trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng chúng ta có thể đảm bảo CLKK mà không ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội.

    Thứ hai, các TP lớn của Việt Nam cần xây dựng Kế hoạch quản lý CLKK. Dự thảo Luật BVMT (sửa đổi) đã đưa vào các quy định mới để giải quyết các nguồn điểm, nguồn diện phát sinh khí thải cần được quản lý, xử lý thông qua việc quy định từng địa phương phải xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí, phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện. Phải tiến hành đánh giá, phân tích chi phí lợi ích của các giải pháp quản lý chất lượng không khí, từ đó xác định giải pháp ưu tiên cần thực hiện. Hỗ trợ kỹ thuật của World Bank giúp Hà Nội và Bắc Ninh, Hưng Yên xây dựng Dự thảo Kế hoạch quản lý CLKK giới thiệu một cách làm tốt để các địa phương có thể tham khảo và học hỏi kinh nghiệm khi xây dựng kế hoạch cho địa phương mình.

    Thứ ba, về mặt chính sách, cần sử dụng công cụ chính sách sắc bén hơn. Hiện Việt Nam đã có các công cụ tăng trưởng xanh đang được thực hiện như công cụ giá (như thuế, lệ phí), quy chuẩn, tiêu chuẩn (quy chuẩn chất lượng không khí xung quanh, quy chuẩn khí thải công nghiệp sản xuất xi măng, thép…), sử dụng nguồn lực cho thông tin và các chương trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao hay đền bù cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi các chính sách khác. Muốn quy định giá theo thị trường một cách hiệu quả đòi hỏi nhà nước phải loại bỏ các khoản trợ giá hoặc các chính sách không phản ánh đúng giá thành và không phản ánh đúng chi phí xã hội như tác động tiêu cực lên sức khỏe hay môi trường. Định giá theo thị trường sẽ hiệu quả hơn nếu đi kèm các mục tiêu cụ thể và tham vọng, tăng cường năng lực thực thi và giám sát thực hiện, có quy chế quản lý và trách nhiệm giải trình cụ thể của các đơn vị liên quan trong thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

    Thứ tư, cần áp dụng công cụ thuế và lệ phí môi trường để tính đúng, tính đủ chi phí tương lai, tức là tác động của việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch lên môi trường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm nước và không khí, và chi phí y tế. Các chi phí này chiếm 2,5% GDP tại các nước OECD. Tại các nước EU con số này là 5%. Tại Việt Nam, con số này chỉ là 1%, thấp hơn Hàn quốc, Trung quốc, Thổ Nhĩ Kỳ. Không có nhiều nước thực hiện cải cách một cách hệ thống chính sách tài khóa để đánh thuế các tác nhân xấu (gây ô nhiễm) thay vì đánh thuế tác nhân tốt (lao động, đầu tư). Hiện nay ngày càng có nhiều quốc gia thực hiện đánh thuế môi trường, đồng thời tìm cách quản lý tốt tác động xã hội của các biện pháp này. Các công cụ dựa trên thị trường như đánh thuế sẽ khuyến khích các phương pháp giảm ô nhiễm và tránh khai thác không bền vững một cách hiệu quả, tiết kiệm nhất. Đánh thuế cũng giúp tăng nguồn thu. Biện pháp thuế có bền vững hay không còn phụ thuộc vào mức thuế hiện nay và nguồn thu từ thuế môi trường sẽ được sử dụng như thế nào.

    Thứ năm, Chính phủ Việt Nam cũng cần tăng cường giáo dục về môi trường nhằm thúc đẩy lối sống xanh và tạo cơ hội nghiên cứu và phát triển các công nghệ xanh. Tại tất cả các cấp cần giáo dục về lối sống xanh, công nghệ xanh, kỹ thuật xanh, để từ đó nâng cao năng lực tại chỗ về tăng trưởng xanh. Thông tin về lối sống xanh sẽ giúp người dân nâng cao nhận thức về quyền được hưởng không khí, nước và đất sạch và trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ các tài nguyên đó và cần thời gian để xây dựng và phát triển ý thức.

PV. Trân trọng cảm ơn bà!

                              Châu Loan (Thực hiện)      

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 10/2020)  

Thống kê

Lượt truy cập: 3237162