--%>

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại thành phố (TP) Nam Định, tỉnh Nam đĐịnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn TP. Nam Định, lượng CTRSH có lượng phát sinh khoảng 186 200-210 tấn/ngày đêm tấn/ngày, đêm.


     Tóm tắt

     Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại thành phố (TP) Nam Định, tỉnh Nam đĐịnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn TP. Nam Định, lượng CTRSH có lượng phát sinh khoảng 186 200-210 tấn/ngày đêm tấn/ngày, đêm. Các loại chất thải này sau khi thu gom chủ yếu được chôn lấp, các nhà máy xử lý chất thải rắn bằng vi sinh và lò đốt rác đã bị hư hỏng xuống cấp. Ô chôn lấp CTRSH của TP đã sắp hết khả năng tiếp nhận. Các biện pháp như phân loại chất thải tại nguồn, ứng dụng công nghệ thông tin, tính đủ chi phí thu gom và xử lý là các biện pháp khả thi giúp nâng cao hiệu quả quản lý CTR SH trong khu vực TP, đảm bảo cho sự phát triển bền vững chung của khu vực.

     Từ khóa: Chất thải rắn sinh hoạt, quản lý chất thải rắn, chất thải rắn đô thị, Nam Định.

     Nhận bài: 12/8/2020; Sữa chữa: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020.

     1. Đặt vấn đề

     TP. Nam Định nằm ở trung tâm khu vực phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng (gồm 4 tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình), cách thủ đô Hà Nội 90 km và có tầm ảnh h­­ưởng quan trọng tới sự phát triển của vùng Nam đồng bằng sông Hồng(2). Tổng lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn TP ước tính 200-210 tấn/ngày và thu gom được 186 tấn/ngày (tỷ lệ thu gom đạt 90%) [1]. Biện pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt sau khi thu gom chủ yếu là chôn lấp. Điều này làm các ô chôn lấp tại tỉnh Nam Định bị lấp đầy nhanh hơn thiết kế.Khu liên hợp xử lý CTR Lộc Hòa hiện đã hết quỹ đất giành cho chôn lấp và hiện đang sử dụng 3 ô chôn lấp dự phòng và dự kiến 3 ô này cũng sắp đấy, quá trình hoạt động của khu xử lý còn gây nhiều bức xúc cho cư dân sống lân cận do gây ô nhiễm môi trường.

     Mặt khác, mặc dù đã được UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch CTR vùng, tỉnh Nam Định tại Quyết định số 3053/QĐ-UBND ngày 23/12/2016 nhưng đến nay vẫn chưa triển khai thực hiện được do không nhận được sự đồng thuận của nhân dân khi xây dựng khu xử lý rác thải tại địa phương mình.

     Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thành phần CTRSH, đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý CTR, từ đó làm cơ sở đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH cho TP Nam Định trên cơ sở thực hiện 3R trong quản lý chất thải.

     2. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

     Nghiên cứu được thực hiện tại TP. Nam Định và giới hạn trong khu vực đô thị. CTRSH được lấy mẫu từ các xe gom đẩy tay và phân tích thành phần tại phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Đại học TN&MT Hà Nội. Việc phân tích thành phần CTR được thực hiện theo quy trình như Hình 1.

     Các điểm thu gom CTR được khảo sát trực tiếp xác định tọa độ và sau đó đưa các vị trí lên bản đồ bằng phần mềm mã nguồn mở QGIS.

 

    

Hình 1. Phân tích thành phần chất thải rắn sinh hoạt

 

     3. Kết quả nghiên cứu

     3.1. Khối lượng và thành phần CTRSH phát sinh trong khu vực

     Tại khu vực TP. Nam Định, năm 2018 dân số ước chừng 236.000 người phân bố trên 22 phường và 3 xã [1], theo thống kê của Sở TN&MT tỉnhtổng lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn thành phố ước tính 186 tấn/ngày và tỷ lệ thu gom đạt  [2]. Thành phần CTRSH trong khu vực theo kết quả phân tích (Hình 2) có thành phần chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học là các loại rau củ quả chiếm tỷ lệ cao nhất (49,25%), các loại chất thải có khả năng tái chế như kim loại, giấy chiếm khoảng 11,12%, các loại chất thải nhựa như nilong, nhựa cứng, vỉ nhựa chiếm 11,09%, còn lại là các loại chất thải trơ như xương động vật, gỗ, củi,…

 

Hình 2. Kết quả phân tích thành phần CTRSH tại TP. Nam Định

 

     Hiện nay trên TP. Nam Định chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn tại khu vực đô thị. Một số loại CTRSH có khả năng thu hồi tái chế được thu tự phát tại các hộ dân, thu gom bởi những người hành nghề đồng nát, người bới rác và những người công nhân thu gom rác. CTRSH có khả năng tái chế, sau khi thu gom sẽ được phân loại và vận chuyển đến các cơ sở tái chế trong khu vực, ví dụ như: làng nghề sản xuất cơ khí xã Quang Trung (huyện Vụ Bản), Nam Giang, Đồng Côi,…(huyện Nam Trực),…Một số hộ dân còn tái chế các loại chất thải là thức ăn thừa, rau, củ, quả… làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm.

 

Hình 3. Sơ đồ thu gom CTRSH tại Nam Định [4]

 

     Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định là đơn vị chuyên trách duy nhất thực hiện nhiệm vụ thu gom và xử lý CTRSH cho TP. Nam Định. Hoạt động của Công ty được thực hiện dưới sự quản lý của Phòng Quản lý đô thị thuộc UBND TP. Nam Định. Trang thiết bị phục vụ công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt gồm: 342 xe đẩy tay, 19 xe vận chuyển chuyên dùng. CTR tại các hộ dân được thu gom bằng các xe đẩy tay, sau đó được tập kết lên các xe chuyển dụng tại 51 điểm tập kết (Hình 4). CTR SH sau khi thu gom được) và vận chuyển về Kkhu liên hợp xử lý CTR Lộc Hòa để xử lý.

 

Hình 4. Vị trí các điểm thu gom CTRSH trên bản đồ QGIS

 

     3.2. Hoạt động xử lý CTRSH tại thành phố Nam định

      Đối với khu vực TP. Nam Định: CTRSH được Công ty CP Môi trường Nam Định thu gom và xử lý tại Khu liên hợp xử lý rác thải Lộc Hòa. Khu liên hợp xử lý chất thải Lộc Hòa được xây dựng cách trung tâm Nam Định 6km, có tổng diện tích là 23,7ha. Trong đó Nhà máy xử lý rác thải công suất 200 tấn/ngày, đêm (sử dụng công nghệ ủ lên men rác để sản xuất phân compost kết hợp lò đốt rác vô cơ) có diện tích 3ha, lò đốt rác với công suất thiết kế 4 tấn/h, khu chôn lấp hợp vệ sinh với diện tích là 20,7ha. CTRSH khi được vận chuyển đến Khu liên hợp sẽ được xử lý và phân loại như Hình 5.

 

    Hình 5. Quy trình xử lý CTRSH tại Khu liên hợp xử lý rác thải Lộc Hòa

 

      Chất thải vô cơ được tách lọc rác vô cơ qua quá trình sàng sơ bộ và sàng tinh đem ủ CÓ THẬT HẢ CHỊ?  trước  khi cho vào lò đốt; phần rác vô hữu cơ không được đưa vào ủ hết và phần rác qua cầu cân còn lại đưa thẳng ra hố chôn lấp rác hợp vệ sinh;

     Chất thải có khả năng tái chế gồm các loại như bao bì nhựa, ni lông, chai lọ thủy tinh, sắt vụn được phân loại, tập kết tại các kho và vận chuyển đến các cơ sở tái chế.

    Thực tế cho thấy, khu vực xử lý CTR làm phân compost được đầu tư xây dựng từ năm 2003 , lò đốt đầu tư năm 2009, sau một thời gian hoạt động các công trình đã bị hỏng hóc và xuống cấp nhiều, hệ thống phân loại ban đầu cũng không hoạt động thường xuyên được. Vì vậy trong thực tế phần lớn CTRSH sau khi thu gom sẽ được phân loại thủ công và đưa đi chôn lấp. Điều này làm các ô chôn lấp chất thải bị lấp đầy nhanh hơn thiết kế.

     3.3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Nam Định

     Các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động quản lý CTR tại TP. Nam Định gồm:

     + Công nghệ xử lý chưa phù hợp: Việc lựa chọn công nghệ chôn lấp  là công nghệ chính trong xử lý chất thải rắn đã làm quỹ đất dùng cho chôn lấp đã sắp hết. Đối vớiTẠI khu vực thành phố Nam Định, TẠI /////// (Ý EM HỎI VỊ TRÍ 3 Ô CHÔN LẤP Á).Việc mở rộng hoặc xây dựng các ô chôn lấp mới cũng không khả thi do quy định về khoảng cách an toàn môi trường từ các khu xử lý CTR tập trung đến các công trình xây dựng công cộng khác được quy định tại các qQuy chuẩn Việt Nam không phù hợp thực tế tại các tỉnh đồng bằng do mật độ dân số đông. Đồng thời việc lựa chọn địa điểm xây dựng các khu xử lý CTR tập trung thường không nhận được sự đồng tình ủng hộ của người dân địa phương do sợ bị ảnh hưởng, tác động ô nhiễm môi trường từ các khu này.

     + Kinh phí dành cho hoạt động thu gom và xử lý CTRSH thấp. Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới giới NĂM 2018tại Phú Thọ, để xử lý CTRSH bằng ủ compost kết hợp đốt tại Phú Thọ thì kinh phí vận hành cần 608.340 đồng/người/năm tương ứng với 51.695 đồng/người/tháng [35]. Nhưng hiện nay tại Nam Định, mức giá dịch vụ thu gom vận chuyển xử lý rác thải sinh hoạt được ban hành theo Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 27/ 2/2017 là 8.000 đồng/người/tháng, mức giá này không đủ chi trả cho hoạt động xử lý, chủ yếu chỉ đủ cho hoạt động thu gom, vận chuyển.

      Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có các biện pháp giảm thiểu lượng CTR phát sinh, đưa ra các công nghệ xử lý CTRSH theo hướng tận dụng chất thải và giảm thiểu lượng chất thải còn lại cần chôn lấp. Với kết quả phân tích thành phần rác thải như đã nêu ở trên,  thành phần các loại chất thải có thể xử lý giảm thiểu thể tích cũng như tận dụng lại chất thải chiếm 71,46% gồm chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, các loại chất thải có khả năng tái chế, các loại chất thải nhựa như nilong, nhựa cứng, vỉ nhựa có thể đốt.  Để làm được điều này cần cải tạo lại các công trình xử lý chất thải rắn như hệ thống phân loại, bể ủ compost và lò đốt, đồng thời cũng cần có một nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của các công trình này, tuy nhiên nếu áp dụng được thì lượng chất thải rắn cần chôn lấp có thể giảm xuống 50% so với hiện nay. Trước mắt để khắc phục  các vấn đề tồn tại trong hoạt động quản lý CTRSH hiện nay, TP. Nam Đđịnh cần có chiến lược nhằm giảm thiểu lượng rác cần xử lý, giảm thiểu lượng rác cần chôn lấp, xây dựng cơ chế khuyến khích xã hội hóa trong thu gom và xử lý CTRSH. Các hoạt động có thể thực hiện được bao gồm:

  • Xây dựng cơ chế hướng tới tính đúng tính đủ chi phí cho hoạt động thu gom và xử lý CTR theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Việc tính toán đủ chi phí cũng tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư từ các nguồn vốn khác.
  • Triển khai phân loại chất thải rắn tại nguồn, mục tiêu để giảm thiểu chi phí trong hoạt động thu gom và xử lý rác thải, giảm lượng CTR cần xử lý tập trung.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý hoạt động thu gom chất thải rắn, điều này sẽ làm tối ưu hóa các chuyến thu gom vận chuyển và gián tiếp làm giảm bớt chi phí thu gom chất thải.

     4. Kết luận

     Trên địa bàn TP.Nam Đđịnh, lượng CTRSH có lượng phát sinh chất thải khoảng 186 tấn/ngày,  đêm., Tthành phần chất thải có chứa lượng lớn chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm (49,25; các loại chất thải có khả năng tái chế như kim loại, giấy chiếm khoảng 11,12%, các loại chất thải có khả năng cháy được như chất thải nhựa chiếm 11,09%, còn lại là các chất thải khác…. Các loại chất thải này sau khi thu gom và phân loại, chủ yếu được chôn lấp (do , các nhà máy xử lý CTR bằng vi sinh và lò đốt rác đã bị hư hỏng xuống cấp). Ô Khu liên hợp xử lý rác thải Lộc Hòa đã hết quỹ đất dành cho chôn lấp, hiện nay đang sử dụng 3 hố chôn lấp dự phòng chôn lấp CTRSH  và cũng đã săp hết khả năng tiếp nhận. Do vậy, cCác biện pháp như phân loại chất thải tại nguồn, ứng dụng công nghệ thông tin, tính đủ chi phí thu gom và xử lý là các biện pháp khả thi giúp nâng cao hiệu quả quản lý CTR SH trong khu vực TP.

 

Nguyễn Thu Huyền1,  Nguyễn Hà Ngân1, Vũ Kim Hạnh2

1Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

  2Đại học Giao thông vận tải

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt III/2020)

 

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. https://baotainguyenmoitruong.vn/nam-dinh-van-gap-kho-trong-xu-ly-rac-thai-nuoc-thai-298853.html
  2. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2018, Nhà xuất bản Thống kê
  3. Sở TN&MT Nam Định (2019), Báo cáo công tác quản lý CTR trên địa bàn tỉnh Nam định
  4. Viện Quy hoạch Môi trường, Hạ tầng kỹ thuật đô thi và Nông thôn (2016), Thuyết minh Quy hoạch quản lý CTR vùng tỉnh Nam Định đến 2030
  5. Ngân hàng Thế giới (2018), Đánh giá công tác quán lý CTRSH và chất thải công nghiệp nguy hại, các phương án và hành động nhằm thực hiện chiến lược quốc gia

 

 

THE ASSESSMENT RESEARCH OF CURRENT MANAGEMENT STATUS OF DOMESTICMUNICIPAL SOLID WASTE IN NAM ĐINH CITY

 

Nguyễn Thu Huyền1,  Nguyễn Hà Ngân1, Vũ Kim Hạnh2

1Hanoi University of Natural Resources and Environment,

2University of Transport and Communication

    

     Summary

    This study was conducted to assess the current status of the municipal solid waste  domestic solid waste (MDSW) management system in Nam Dinh city, Nam Dinh province. The research results show that, in Nam Dinh city, the amount of DMSW is about 186200-210 tons/day. These types of waste, after being collected, are mainly buried, solid waste treatment factories by microbiological plants and incinerators have been damaged and degraded. The city's DMSW landfill has almost reached max capacity to receive more DMSW. Solutions such as sorting waste at source, applying information technology, fully calculating collection and treatment costs are possible measures to help improve the efficiency of DSW management in the city area, ensuring for the sustainable development of the region.

     Key words: municipal Domestic solid waste, Solid waste management, City solid waste, Nam Dinh.

 

 

 

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3237151