--%>

Tóm tắt

    Sau gần 30 năm phát triển theo hướng bền vững, sự phát triển của thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn chưa bền vững. Chúng ta vẫn cần phải chuyển đổi nền kinh tế - sinh thái - xã hội để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là về mặt xã hội và sinh thái. Trong thời gian gần đây, một số thách thức về an ninh phi truyền thống đã trở nên mạnh mẽ hơn, đe dọa sự sống còn của nhân loại và trái đất. Biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng trở nên khốc liệt, suy thoái đa dạng sinh học ngày càng gia tăng, Kỳ tuyệt chủng lần thức 6 của sinh vật đang đến gần và tình trạng ô nhiễm chất thải nhựa đại dương đã ở mức báo động. Tất cả những điều này đòi hỏi chúng ta phải có một bước đột phá trong tư duy đổi mới và thay đổi mạnh mẽ trong hành động, để đáp ứng hiệu quả, để cứu trái đất -  ngôi nhà chung và duy nhất của chúng ta.

Từ khóa: An ninh phi truyền thống, Biến đổi khí hậu, Ô nhiệm chất thải nhưa đại dương, Suy thoái đa dạng sinh học.

1. Thách thức đối với PTBV

    Trong lịch sử của mình, chưa có khi nào nhân loại đạt được những bước tiến dài trên con đường phát triển như ngày nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa đến chính sự tồn vong của mình như bây giờ.

     Sau hơn 20 năm thực hành PTBV, mà trước hết là thực hiện 8 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (LHQ), thế giới vẫn chưa đạt được các kết quả bền vững như mong muốn, đặc biệt trong trụ cột Sinh thái - Xã hội. Gần đây, trên phạm vi toàn cầu lại liên tiếp xảy ra những cuôc khủng hoảng mới, trong đó Khủng hoảng khí hậu/BĐKH được cho là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Cuộc chiến chống BĐKH còn rất cam go, căng thẳng (nhất là từ sau COP 13, 2007), và cho đến gần đây (tại COP 21, 2015) cộng đồng quốc tế mới có được Thoả thuận toàn cầu lịch sử về ứng phó với BĐKH.

    Thỏa thuận Paris về BĐKH (2015) đánh dấu bước đột phá quan trọng trong nỗ lực của Liên hợp quốc suốt hơn hai thập kỷ qua nhằm thuyết phục Chính phủ các nước hợp tác để giảm lượng phát thải khí nhà kính (KNK) để giữ nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2oC và “theo đuổi các nỗ lực” để hạn chế mức tăng nhiệt độ ở ngưỡng 1,5oC (IPCC, 2018).

    Cũng trong năm 2015, LHQ đã ban hành Chương trình nghị sự 2030 - một kế hoạch hành động vì con người, hành tinh và sự thịnh vượng. Chương trình có 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể phát triển bền vững được thông qua nhằm đảm bảo cho quá trình hội nhập và liên kết giữa các quốc gia, vì lợi ích chung của mọi người dân, cho thế hệ hôm nay và ngày mai (UN, 2015).

    Để thực hiện các cam kết quốc tế đã ký kết, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch quốc gia về Tăng trưởng xanh (3/2014), Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH (10/2016), và Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (4/2017) .v.v… Hiện nay, các Bộ, ngành và địa phương đang xây dựng kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện của mình để triển khai các kế hoạch này trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, Việt Nam đang có nhiều đổi mới theo hướng phát triển nhanh và bền vững, thuận thiên, quy hoạch phát triển dựa trên chức năng sinh thái tổng hợp .v.v (Chính phủ Việt Nam, 2017 a, b, c).

    Trong bối cảnh hiện nay, nhiều thách thức mới cho sự PTBV lại xuất hiện, nhất là các vấn đề an ninh phi truyền thống. Bài viết này thảo luận 3 vấn đề an ninh truyền thống mới nổi đe dọa sự tồn vong của Trái đất của nhân loại, bao gồm Biến đỏi khí hậu ngày cành khốc liệt, Suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH) ngày càng gia tăng và Ô nhiễm chất thải nhựa biển đã tới mức báo động trên phạm vi toàn cầu.

2. Bối cảnh chuyển đôi kinh tế-sinh thái - xã hội

   Về mặt lý thuyết, PTBV đã được định nghĩa rất rõ “là sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên” (Rio-92, 1992); “là sự phát triển hài hòa giữa ba trụ cột Kinh tế - Xã hội – Môi trường/ Sinh thái” (Rio+10 2002) hay nhấn mạnh phải trên nền của Văn hóa (UNESCO). Tuy nhiên trong thực tế thực hiện, các quốc gia trong đó có Việt Nam, vẫn tập trung vào phát triển kinh tế, còn khía cạnh xã hội và sinh thái ít được chú ý hơn (Hình 8). Hậu quả là sự phát triển của nhân loại đang đối mặt với hàng loạt các thách thức về sinh thái-xã hội.

 

Hình 1. Ba trụ cột của Phát triển bền vững, trong đó Trụ cột Xã hội và đặc biệt là Môi trường/Sinh thái cần được tăng cường (Nguồn: IUCN, 2004)

 

    Vì vậy, sau ba năm chuẩn bị (2013 - 2015), tháng 9 năm 2015, Đại hội đồng LHQ đã thông qua Chương trình nghị sự 2030 toàn diện, phổ quát và duy nhất, vì sự phát triển bền vững với 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2016-2030, được biểu trưng như một chiếc bánh cưới mà tầng cơ sở lớn nhất là Sinh quyển, rồi đến Xã hội, Kinh tế và tất cả được đặt trong bối cảnh BĐKH (Stockholm Resilience Center, 2016). Đây là giai đoạn mới cho PTBV tập trung vào 5 yếu tố: Con người, Hành tinh, Thịnh vượng, Hòa bình và Đối tác, theo cách tiếp cận tích hợp và cân bằng giữa các khía cạnh chính, với khẩu hiệu “không để ai bị bỏ lại phía sau” (UN, 2015 - Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development) (Hình 9 và 10). Nhân loại chuyển sang một giai đoạn phát triển mới: Hài hòa với thiên nhiên – thuận thiên (Chính phủ Việt Nam, 2017) với cách tiếp cận bao trùm, tích hợp, liên ngành.

    Ở Việt Nam, sau 30 năm Đổi mới, phát triển của chúng ta vẫn thực sự chưa bền vững. Trong khi về Kinh tế thì tăng trưởng tương đối ổn định, nhưng về Xã hội và Sinh thái thì còn rất nhiều vấn đề, thậm chí nhiều chỗ, nhiều nơi còn xuống cấp (Trương Quang Học, 2016). Về Xã hội: nhiều vấn đề như đạo đức, quan hệ ứng xử xã hội, ý thức tôn trọng pháp luật, tội phạm ngày càng nhức nhối, có xu hướng gia tăng. Về Sinh Thái: i) “Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm; Tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt. Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển KT-XH, sức khỏe và đời sống nhân dân” (Nghị Quyết 24, BCHTWW Khóa VII. 2013). Vì vậy, trong thời gian tới, đây là những vấn đề cần phải được đặc biệt quan tâm.

 

Hình 2. Sơ đồ chiếc bánh cưới của 17 mục tiêu PTBV, gồm 4 tầng Sinh quyển, Xã hội, Kinh tế và Quạn hệ đối tác (Nguồn: Stockholm Resilience Center, 2016)

 

Các vấn đề án ninh phi truyền thống mới nổi

    Trong nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống mà chúng ta đang đối mặt hiện nay, ba vấn đề bức súc nhất nổi lên bao gồm:

    Biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt. Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI. BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội và sức khỏe con người. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan như là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới. BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và được coi là thách thức lớn cho PTBV.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng

    Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết cự đoan, bão lũ, hạn hán và rét đậm, rét hại. Với các biểu hiện này, BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khỏe con người trên phạm vi toàn cầu.

     Đầu tháng 11/2019 vừa qua, tổ chức Quỹ Sinh thái Toàn cầu (UEF) đã công bố báo cáo Sự thật đằng sau các cam kết khí hậu cho thấy phần lớn quốc gia tham gia Hiệp định Paris đều không thực hiện cắt giảm khí thải đúng như cam kết (Watson et al., 2019)

     Trong những năm gần đây, lượng KNK thải ra trên toàn cầu vẫn tăng chóng mặt, dẫn tới những ảnh hưởng mang tính tàn phá ngày càng tăng của BĐKH Trái Đất. Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO, 2019) 20 năm nóng nhất trong lịch sử đều là trong 22 năm qua và năm 2019 trở thành năm nóng thứ 4 trong lịch sử. 

    Các đợt nắng nóng đỉnh điểm đã xẩy ra ở nhiều khu vực trên thế giới, đến gần 50OC ở Australia, Ấn Độ hay lên tới 41OC ở những xứ lạnh như châu Âu, Canada và Mỹ làm nhiều người tử vong. Mặc dù hiệp định Paris về BĐKH năm 2015 kêu gọi giữ mức tăng nhiệt độ Trái Đất dưới ngưỡng 2OC, nhưng hành tinh của chúng ta hiện đang trên đà nóng lên gấp đôi con số này. Các tổ chức khí tượng và môi trường của LHQ dự báo nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm từ 3-5OC trong thế kỷ XXI, vượt xa so với mục tiêu hạn chế ở mức 1,5 - 2OC theo Hiệp định Paris (Hình 10.16).

 

Hình 3. Nhiệt độ toàn cầu năm 2019 (Nguồn: WMO, 2019)

 

    Sự nóng lên toàn cầu cũng kéo theo rủi ro ngày càng gia tăng liên quan đến khí hậu đối với sức khỏe, sinh kế, an ninh lương thực, cấp nước, an ninh con người và tăng trưởng kinh tế.

    Không chỉ đối mặt với các đợt nắng nóng đỉnh điểm gây thiệt hại về người, thế giới cũng xảy ra các vụ cháy rừng, trung bình mỗi ngày có khoảng 10.000 đến 30.000 vụ hỏa hoạn gây thiệt hại năng nề trên khắp hành tinh, từ nơi xa xôi như Siberia cho đến Amazon, Indonesia, Australia và Mỹ… Đặc biệt trong năm 2019, đã xảy ra vụ cháy kỷ lục tại rừng Amazon (Hình 10.17).  Đây chính là một trong những lời cảnh cáo mạnh mẽ nhất từ thiên nhiên cho thấy con người đã vi phạm các ranh giới mà lẽ ra chúng ta không nên vượt qua.

Đa dạng sinh học suy thoái báo động và kỳ tuyệt chúng lần thứ 6 đang đến

    ĐDSH toàn câu đang bị suy thoái một cách báo động. Báo cáo của IPBES (Global Assessment Report on Biodiversity and Ecosystem Services…, 2019) đã nêu rõ thiên nhiên đang suy giảm trên toàn cầu với tốc độ chưa từng có trong lịch sử loài người - và tốc độ tuyệt chủng loài đang gia tăng, với những tác động nghiêm trọng đến mọi người trên thế giới hiện nay. “Sức khỏe của các HST mà chúng ta và tất cả các loài khác phụ thuộc đang xấu đi nhanh chóng hơn bao giờ hết. Chúng ta đang làm xói mòn nền tảng của nền kinh tế, sinh kế, an ninh lương thực, sức khỏe và chất lượng cuộc sống trên toàn thế giới” (Robert Watson, Chủ tịch IPBES, 2019). Báo cáo cho thấy khoảng 1 triệu loài động vật và thực vật hiện đang bị đe dọa tuyệt trong những  thập kỷ tới, hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người.

Động lực/nguyên nhân gây suy thoái đa dang sinh học

    Có nhiều nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH do cả tự nhiên và con người. Trước đây, nhiều tác giả chia chúng thành 2 nhóm: i) Các nguyên nhân/động lực trực tiếp (direct causes), và các nguyên nhân sâu xa, gián tiếp (indirect/root causes) liên quan tới thể chế, chính sách, dân số và KT-XH (Phạm Binh Quyền, Trương Quang Học, 1998, MA, 2005) (Hình 7.9).

    Gần đây, các nguyên nhân này được khái quát thành các nhóm nguyên nhân gây ra Kỳ tuyệt chúng lân thứ 6 hiện nay, bao gồm những tác động theo thứ tự giảm dần: (1) thay đổi sử dụng đất và biển; (2) khai thác trực tiếp sinh vật; (3) BĐKH; (4) ô nhiễm và (5) các loài ngoại lai xâm hại (IPBES report, 2019)..

Đại tuyệt chủng

    Nếu tính trong vòng 540 triệu năm trở lại đây, Trái Đất đã phải hứng chịu 20 cuộc tuyệt chủng quy mô lớn nhỏ khác nhau, trong số đó có 5 kỳ đại tuyệt chủng suýt hủy diệt hành tinh của chúng ta  (Jack Sepkoski and David M. Raup, 1982).

1. Tuyệt chủng Ordovic - Silur xảy ra cách đây 440-450 triệu năm; đánh dấu ranh giới giữa 2 kỷ Ordovic và kỷ Silur. Đã có 2 vụ tuyệt chủng liên tiếp trong giai đoạn này, tiêu diệt 27% số họ, 57% số chi và được đánh giá là vụ tuyệt chủng lớn thứ hai trong lịch sử Trái Đất nếu đánh giá theo tỉ lệ số chi bị tiêu diệt.

2. Tuyệt chủng Devon bắt đầu cách đây khoảng 360-375 triệu năm và có bằng chứng khảo cổ cho thấy đây là cuộc tuyệt chủng  liên hoàn kéo dài đến 20 triệu năm, ngay trước thời điểm chuyển giao giữa kỷ Devon và kỷ Cacbon. Cuối tầng Frasne, một chuỗi dài các vụ tuyệt chủng liên tiếp đã tiêu diệt 19% số họ, 50% số chi và 70% số loài.

3. Tuyệt chủng Permi - Trias là sự kiện tuyệt chủng khủng khiếp nhất trong lịch sử khi đã tuyệt diệt phần lớn sinh vật trên Trái Đất, thiết lập lại gần như toàn bộ hệ thống sinh giới; xảy ra 251 triệu năm về trước giữa 2 kỷ Permi và kỷ Triat. Đây là vụ tuyệt chủng khủng khiếp nhất trong lịch sử sinh học, giết chết 57% số họ và 83% số chi (trong đó có 53% số họ và 84% số chi sinh vật biển). Sự kiện này đã tiêu diệt hoàn toàn khỏi Trái Đất 96% số loài sinh vật biển và 70% số loài sống trên cạn, bao gồm cả động vật có xương sống, côn trùng và thực vật. Nó đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình tiến hóa trên Trái Đất:

4. Tuyệt chủng Trias - Jura là cuộc tuyệt chủng đánh dấu ranh giới giữa kỷ Trias và kỷ Jura, xảy ra cách đây 199,6 triệu năm; đánh dấu bước chuyển từ kỷ Triat sang kỷ Jura. Khoảng 23% số lượng họ và 48% số chi (bao gồm 20% số họ và 55% số chi sinh vật biển) tuyệt chủng

5. Tuyệt chủng Creta - Paleogen xảy ra vào cuối kỷ Creta cách đây khoảng 66,5 triệu năm, đánh dấu sự chuyển tiếp từ kỷ Creta sang kỷ Paleogen. Khoảng 17% số họ, 50% số chi và 75% số loài đã tuyệt chủng.

    Năm kỳ Đại tuyệt chủng xẩy ra trong lịch sử khi chưa xuất hiện loài người, vì thế nguyên nhân hoàn toàn do sự biến đổi của tự nhiên.

Kỳ Đại tuyệt chủng sinh vật lần thứ 6

    Kỳ Đại tuyệt chủng sinh vật lần thứ 6 còn được gọi là Kỳ "Hủy diệt Sinh học" (Biological Annihilation). Theo Ceballos và cs (2015) và Payne và cs. (2016), Trái Đất đang ở giai đoạn bắt đầu tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu, một sự kiện thảm khốc, theo đó khoảng 75% các loài của nó sẽ bị mất, và tỷ lệ tuyệt chủng hàng năm là giữa 17.000 và 100.000 loài.. Giới nghiên cứu nhận định, tốc độ tuyệt chủng hiện nay nhanh gấp 4.000 lần so với thời kỳ khủng long. Dưới tác động của con người từ các hoạt động sống và sản xuất, giao thông... đều đang để lại hậu quả nặng nề cho tự nhiên, khó mà phục hồi nguyên trạng. Đại tuyệt chủng lần 6 xẩy ra do hậu quả của BĐTC, trước hết là BĐKH toàn cầu và trong tất cả các HST, trên cạn, dưới nước/đất ngập nước ở biển và đại dương (IPBES report, 2019) (Hình 7.10 )

 

Hình 4. ĐDSH của Trái Đất đang suy giảm với tốc độ chưa từng có (ảnh: IPBES, Việt hoá bởi TTVN)

 

Ô nhiễm chất thải nhựa đại dương ở mức báo động

    Trong thời gian gần đây, ô nhiễm chất thải nhựa đại dương đang nổi lên như một vấn đề môi trường toàn cầu được tất cả thế giới quan tâm. Ô nhiễm chất thải nhựa ở biển là một trong những đe dọa lớn nhất của đại dương thế giới, đã và đang phá hoại các hoạt động kinh tế, xã hội tại các vùng biển và vùng bờ biển, như du lịch, nghỉ dưỡng, nghề cá và giao thông, môi trường, ĐDSH và nguồn lợi cá biển, sức khỏe và sự an toàn của con người...

    Theo Jambeck và nnk (2015), hiện nay đại dương thế giới đã chứa khoảng 275 triệu tấn chất thải nhựa. Tính trung bình, mỗi km2 mặt nước đại dương thế giới hiện nay chứa từ 13.000 tới 18.000 mẩu rác thải nhựa. Theo cơ quan BVMT Mỹ (EPA, 2008), khoảng 49% rác thải nhựa là nổi và sẽ bị vận chuyển đi khắp đại dương thế giới, sau đó tích tụ lại tại các xoáy quy mô lớn trên biển. Một lượng rất lớn rác thải nhựa ở biển sẽ chìm xuống đáy biển và phá hoại các hoạt động sống ở đáy biển (Greenpeace, 2017). Chất thải nhựa đã gây thiệt hại tới 8 tỷ USD cho HST biển (Jambeck et al., 2015).

    Theo thống kê, Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia hàng đầu phải chịu trách nhiệm cho khoảng 13 triệu tấn nhựa được thải ra đại dương/năm (Trương Quang Học, 2019).

 

Hình 5. Tình trạng báo động đó ô nhiễm chất thải nhựa đại dương

 

Chúng ta cần làm gì ?

- Đổi mới tư duy: Trong bối cảnh mới hiện nay, cần phải đổi mới tư duy phát triển, theo hướng phát triển và thích ứng, phát triển xanh, hài hòa với thiên nhiên,

-  Tăng cường thể chế, chính sách nói chung và về phát triển xanh và bảo vệ môi trường sinh thái nói riêng, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

- Xây dựng và triển khai các mô hình sinh thái/xanh, lối sống xanh theo tư duy sinh thái, đạo đức sinh thái và tiếp cận sinh thái. Phát động phong trào chủ động phát triển các HST khởi nghiệp, doanh nghiệp để phát triển KT-XH.

- Nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển xanh

3. Kết luận

     BĐKH tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế -xã hội, an ninh và sức khỏe con người trên phạm vi toàn cầu cũng như ở Việt Nam. Nói một cách khác, BĐKH là thách thức lớn nhất cho tiến trình phát triển bền vững hiện nay. Vì vậy, một mặt, ứng phó với BĐKH chính là thúc đẩy quá trình PTBV, và mặt khác muốn PTBV phải ứng phó có hiệu quả với BĐKH. Đấy là hai mặt của một vấn đề. PTBV và ứng phó với BĐKH đều là các vấn đề mang tính toàn cầu, vì vậy, hợp tác và hội nhập quốc tế phải là một nguyên tắc chủ đạo theo phương châm: Suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương (thinking globally, acting locally).

 

Trương Quang Học

                                                 Viện Tài nguyên và Môi trường (CRES)

                                                 Đại học quốc gia hà nội

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Tiếng Việt III/2020)

 

SOME NEWLY EMERGING NON-COMMON SECURITY ISSUES IN THE CONTEXT OF ECONOMIC, ECOLOGICAL AND SOCIAL TRANSFORMATION                   

  Truong Quang Hoc

                   VNU Central Institute of Natural Resources and Environmental Studies

                           VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY, HANOI

     After nearly 30 years of developing towards sustainability, the development of the world as well as in Vietnam is still not sustainable. We still need to transform our economy - ecology - society to achieve the goals of sustainable development, especially socially and ecologically. In recent times, a number of non-traditional security challenges have become stronger, threatening the survival of humanity and the earth. Climate change is becoming more and more fierce, biodiversity degradation is increasing, the 6th wave of extinction is coming and the pollution of ocean plastic waste is at an alarming level. All of this requires us to have a breakthrough in innovative thinking and drastic change in action, to respond effectively, to save the earth - our common and unique home.

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3122868