--%>

1. MỞ ĐẦU

     Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã được thông qua tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X với mục tiêu cụ thể là xây dựng phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% GDP của cả nước và giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một cách đáng kể cuộc sống của nhân dân vùng biển và ven biển. Nhận thức rõ tầm quan trọng của Chiến lược đã đề ra, vùng ven biển và các ngành kinh tế biển ở Việt Nam thu hút nguồn nhân lực lớn, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, nhà máy đóng và sửa chữa tàu, vận tải biển, công nghiệp dầu khí, khai thác khoáng sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch,… Hàng năm, vùng ven biển đóng góp khoảng 30% GDP và 50% giá trị xuất khẩu của cả nước và xu hướng ngày một tăng. Ngoài ra, ngành kinh tế biển và ven biển phát triển mạnh như cảng hàng hải kéo theo việc triển khai các dự án xây dựng bến cảng, cầu cảng, nạo vét luồng tàu... Các hoạt động này đã gây áp lực mạnh mẽ đến môi trường biển do sự gia tăng nhu cầu xử lý trực tiếp ra biển hoặc nhận chìm ở biển. Bài báo đánh giá hiện trạng và ưu nhược điểm của việc nạo vét của các cảng biển, nhận chìm khu vực biển Việt Nam, hiện trạng công tác quản lý và bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý các hoạt động nạo vét, nhận chìm từ các nước trên thế giới.

2. Thực trạng nạo vét, nhận chìm khu vực biển và công tác quản lý hoạt động nạo vét tại Việt Nam

2.1. Nhu cầu và thực trạng nạo vét, nhận chìm ở Việt Nam

    Để bảo đảm an toàn hàng hải, cần thiết phải nạo vét duy tu hàng năm đối với các tuyến luồng cảng sông, biển để phục hồi độ sâu, kích thước luồng, tuyến đường hàng hải, độ sâu các bến, cảng biển theo thiết kế do lượng sa bồi thường xuyên bồi lắng dưới lòng luồng, tuyến đường hàng hải. Do đó, nhu cầu nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải (cho nhận chìm xuống biển) của các Dự án xây dựng cảng, công trình biển hay nạo vét, duy tu thường xuyên, hàng năm nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của việc vận chuyển an toàn hàng hóa xuất, nhập khẩu trong phạm vi cả nước là rất lớn. Cũng chính vì vậy, cần thiết phải có quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hệ thống cảng biển theo một quy hoạch tổng thể và thống nhất trên quy mô cả nước, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước hình thành những đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng với quốc tế làm động lực phát triển các khu kinh tế, đô thị - công nghiệp ven biển [1].

    Ngày 24/6/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1037/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

    Về nội dung quy hoạch, theo vùng lãnh thổ, hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 gồm 6 nhóm cảng: Nhóm 1: nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình; Nhóm 2: nhóm cảng biển Bắc Trung bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh; Nhóm 3: nhóm cảng biển Trung Trung bộ từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi; Nhóm 4: nhóm cảng biển Nam Trung bộ từ Bình Định đến Bình Thuận; Nhóm 5: nhóm cảng biển Đông Nam bộ (bao gồm cả Côn Đảo và trên sông Soài Rạp thuộc địa bàn tỉnh Long An); Nhóm 6: nhóm cảng biển Đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm cả Phú Quốc và các đảo Tây Nam).

    Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã và đang triển khai xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết các nhóm cảng biển. Theo cục Hàng hải, khối lượng nạo vét các luồn hàng hải được thống kê hàng năm lên đến hơn 3,4 triệu m3, trong đó Hải Phòng là một trong những địa phương có khối lượng nạo vét các luồng hàng hải mỗi năm cao nhất, lên đến hơn 1,1 triệu m3.

2.2. Thực trạng quản lý hoạt động nạo vét ở Việt Nam

    Trên thực tế, việc quản lý hoạt động đổ thải bùn nạo vét và các khu vực xử lý bùn nạo vét trên biển vẫn được tiến hành thông qua việc tổng hợp nhiều quy định của các văn bản QPPL liên quan đến các nội dung quản lý cụ thể và thường được trình bày trong các báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với từng trường hợp, Dự án cụ thể [2]. Xét về tổng thể, quy định của ĐTM chưa đầy đủ và phù hợp với đặc thù của biển trong đánh giá tác động đối với chất thải và bãi chứa chất thải trên biển theo quy định khung 8 bước đánh giá chất thải để cấp phép và kiểm soát hoạt động nhận chìm theo Công ước Luân Đôn hay Nghị định thư Luân Đôn. Các ĐTM mới chỉ tập trung đánh giá chủ yếu về mặt môi trường, thiếu các đánh giá trên phương diện tiếp cận tổng thể, đặc biệt là các đánh giá trong việc bảo đảm an toàn giao thông và ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác, sử dụng biển khác cũng như các nội dung kiểm soát, giám sát việc thực hiện việc nhận chìm trên biển còn chưa chi tiết, đầy đủ. Hơn nữa, các ĐTM chủ yếu mang tính định tính, thiếu các yếu tố định lượng để so sánh, đối chiếu làm cơ sở cho việc quyết định cho xử lý tại bãi chứa chất thải trên biển hay không.

    Cũng do thiếu các quy định chung để quản lý hoạt động đổ thải bùn nạo vét và các khu vực đổ thải bùn nạo vét trên biển, nên cách thức tiến hành xây dựng Quy hoạch các vị trí đổ bùn nạo vét của các địa phương cũng không thống nhất trong việc vận dụng văn bản QPPL để phân công cho các cơ quan chủ trì thực hiện. Thậm chí, có địa phương còn giao cho Sở Xây dựng chủ trì phối hợp các Sở, cơ quan liên quan tiến hành lập Quy hoạch các vị trí đổ bùn nạo vét trên biển để trình UBND tỉnh phê duyệt căn cứ theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, căn cứ Điều 10 về trách nhiệm tổ chức lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch quản lý chất thải rắn [3].

     Để tháo gỡ những bất cập trong triển khai các hoạt động đổ thải bùn nạo vét và các bãi đổ thải trên biển (đặc biệt là việc phải lập báo cáo ĐTM cho việc duy tu hàng năm) nhằm bảo đảm an toàn giao thông hàng hải, đường thủy nội địa, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của việc vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu trong phạm vi cả nước, Bộ trưởng Bộ GTVT đã chủ trì đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành Quyết định số 73/2013/QĐ-TTg ngày 27/11/2013 về việc thí điểm thực hiện cơ chế nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải do Bộ GTVT quản lý trong đó Bộ GTVT có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải sử dụng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và cơ quan liên quan hướng dẫn trình tự, thủ tục khuyến khích thực hiện xã hội hóa nạo vét, duy tu luồng hàng hải và khu nước, vùng nước trong vùng nước cảng biển kết hợp tận thu sản phẩm, không sử dụng ngân sách nhà nước; Hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục lập kế hoạch, phân công, phân cấp và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan trong thực hiện cơ chế nạo vét, duy tu luồng hàng hải nhằm bảo đảm đơn giản, thuận tiện, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và tăng cường vai trò, trách nhiệm và hiệu quả quản lý nhà nước; Rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến thiết kế, thi công, bảo trì luồng hàng hải phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu thực tiễn,…Trách nhiệm của Bộ TN&MT trong thực hiện thí điểm cơ chế nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải: Chủ trì, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động nạo vét, duy tu luồng hàng hải; Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện thủ tục đăng ký tận thu sản phẩm đối với các dự án xã hội hóa thực hiện nạo vét, duy tu kết hợp tận thu sản phẩm theo quy định tại Chỉ thị số 29/2008/CT-TTg ngày 2/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ và quy định có liên quan của pháp luật, bảo đảm đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng trong thực hiện dự án [4]. Tuy nhiên, đây là giải pháp tình thế, chưa có định hướng lâu dài trong công tác quản lý nhà nước. Việc cấp phép vị trí nhận chìm của từng địa phương còn nhỏ lẻ chưa có quy hoạch dài hạn. Việc đánh giá, giám sát định kỳ môi trường xung quanh trước và sau khi diễn ra nhận chìm và quy trình giám sát hoạt động nạo vét cũng như hoạt động nhận chìm chưa có quy chuẩn kỹ thuật.

3. Bài học quản lý các hoạt động nạo vét, nhận chìm từ kinh nghiệm các nước trên thế giới

    Để khắc phục những bất cập, tồn tại trong quản lý các hoạt động nạo vét, nhận chìm ở nước ta, việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước tiên tiến đi trước là thực sự cần thiết.

3.1. Mô hình quản lý bãi chứa bùn nạo vét trên biển và hoạt động quản lý của Mỹ

     Những quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý bãi chứa bùn nạo vét trên biển và bùn nạo vét được đổ thải trên biển) của Mỹ được quy định tại Chương 27 Nhận chìm trên biển, Phần 33 về hàng hải và các vùng nước hàng hải trong Bộ luật của Mỹ năm 2010 (US Code 2010 Title 33 NAVIGATION AND NAVIGABLE WATERS CHAPTER 27 OCEAN DUMPING). Các quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển của Mỹ phù hợp với Nghị định thư Luân Đôn 1996 [5].

    Mỹ có hệ thống các bãi chứa bùn nạo vét trên biển được đăng tải công khai. Việc kiểm soát đổ thải thông qua các giấy phép được cấp trong suốt quá trình từ khâu nạo vét, xếp hàng là chất nạo vét, các vật, chất lên tàu đến việc nhận chìm tại các bãi đổ thải trên biển. Đây là mô hình phối hợp đa ngành, gồm có bốn cơ quan liên bang chịu trách nhiệm chính theo Đạo Luật của Mỹ về nhận chìm trên đại dương (Ocean Dumping Act): Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Mỹ (EPA); Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ (US Army Corps of Engineers); Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia của Mỹ (NOAA); Cảnh sát biển Mỹ (US Coast Guard). Ngoài ra, các cơ quan đặc biệt về bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ giữ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa cũng tham gia trong đánh giá để cấp phép nhận chìm.

    EPA là cơ quan chính chịu trách điều tiết việc xử lý tất cả các chất được đổ thải trong các đại dương, cho phép nghiên cứu và thay đổi các hoạt động đang phải tiến hành để giảm dần việc đổ thải chất thải công nghiệp. EPA chỉ định các vị trí bãi nhận chìm trên biển, đại dương để nhận chìm và quy định cụ thể từng giấy phép ở đó vật liệu nào sẽ được đổ thải.

    Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ có thẩm quyền cấp giấy phép nạo vét đổ thải và chịu trách nhiệm thực hiện việc nạo vét luồng cảng. Thư ký của Quân đội Mỹ (thông qua Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ) cấp giấy phép nạo vét và đổ thải.

     Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) chịu trách nhiệm nghiên cứu về sự thay đổi của môi trường biển do con người gây ra để áp dụng trong nghiên cứu, đánh giá chất nạo vét để cấp phép. Cơ quan Khí quyển và Đại dương quản lý một mạng lưới rộng lớn các khu bảo tồn biển theo Đạo luật về các khu bảo tồn.

     Cảnh sát biển Mỹ có trách nhiệm giám sát việc nhận chìm trên biển.

3.2. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động đổ thải chất thải trên biển của Ireland

Luật pháp về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển của Ireland được quy định tại Đạo luật về nhận chìm trên biển của Ireland (Dumping At Sea Act, 1981) để quy định việc nhận chìm bùn nạo vét hoặc các chất khác trong vùng nội thủy và lãnh hải, trên thềm lục địa và vào các khu vực biển khác thuộc thẩm quyền của Ireland [6].

    Bộ GTVT là Cơ quan có thẩm quyền quản lý việc nhận chìm các chất nạo vét trên biển. Cơ quan này xác định các khu vực nhận chìm trên biển, xem xét và cấp phép nhận chìm, thời hạn hiệu lực, số lượng, chủng loại chất nạo vét và phương pháp nhận chìm sau khi tham khảo ý kiến của Bộ TN&MT, Bộ Thủy sản và Lâm nghiệp, Bộ Công nghiệp, Thương mại và Du lịch, Bộ Năng lượng để quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy phép.

    Việc cấp giấy phép phải được kiểm soát nghiêm ngặt theo các quy định. Bộ GTVT có thể thay đổi hoặc thu hồi giấy phép căn cứ vào sự biến đổi của môi trường sinh thái biển và sự phát triển của khoa học và công nghệ. Bộ GTVT sau khi tham khảo ý kiến với Bộ Môi trường, Bộ Thủy sản và Lâm nghiệp, Bộ Công nghiệp, Thương mại và Du lịch và Bộ Năng lượng có thể thu hồi hoặc sửa đổi giấy phép bất cứ khi nào nghĩ rằng nó thích hợp làm như vậy.

3.3. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động đổ thải chất thải trên biển của Canađa

Tại Canađa, các hệ thống quản lý bãi chứa chất nạo vét trên biển và quản lý hoạt động đổ thải chất thải trên biển có những đặc điểm như: Hoạt động theo Nghị định thư Luân Đôn; Có hệ thống cấp giấy phép theo Luật BVMT Canađa; Có một hình thức ứng dụng và danh sách hành động hạn chế được quy định [7].

    Cơ quan Môi trường Canađa là cơ quan chủ trì cấp phép trên cơ sở thiết lập một mạng lưới tư vấn như Ủy ban tư vấn khu vực (mỗi khu vực ven biển), các thành viên trong Ủy ban tư vấn khu vực đại diện cho các cơ quan khác nhau của liên bang và các tỉnh hoặc vùng lãnh thổ liên quan.

    Cơ quan Môi trường Canađa cung cấp mô hình về các đặc tính chất nạo vét. Mẫu đơn xin phép nhận chìm trên biển, đại dương đòi hỏi phải mô tả về vật liệu đề xuất nhận chìm, lịch sử vị trí (khu vực) nhận chìm vật liệu (nạo vét hoặc đổ thải), tính chất, đặc điểm hóa học, vật lý, sinh học và thông tin của các vị trí nhận chìm vật liệu để xác định nguồn ô nhiễm cũng như phương án xử lý vật liệu đã bị ô nhiễm trên đất liền. Các hướng dẫn đánh giá vật liệu đề xuất cho nhận chìm được xác định theo các hướng dẫn đánh giá đối với chất thải của thủy sản, đối với tàu, công trình, cấu trúc nhân tạo, đối với phế liệu kim loại và vật liệu cồng kềnh cũng như đối với các vật liệu khác. Canađa cũng sử dụng phương pháp thử nghiệm theo từng cấp độ để xem xét đặc tính chất nạo vét.

    Yêu cầu của Canađa khi xem xét đặc tính hóa học thường bao gồm các phân tích về độ chính xác theo các giới hạn cụ thể. Phân tích phải bao gồm ít nhất là hai kim loại vi lượng mà giới hạn đã được thiết lập theo quy định (thủy ngân và cadmium), và hai hợp chất hóa học hữu cơ (hydrocarbon tổng poly-hạt nhân thơm, PAH, và tổng số biphenyl đã polyclo hóa, PCB). Các tài liệu hướng dẫn cũng liệt kê một số hợp chất hữu cơ và kim loại nặng mà cơ quan quản lý có thể yêu cầu phân tích.

    Việc cấp phép, giám sát phương tiện chuyên chở chất nạo vét đi nhận chìm trên biển, kiểm soát việc đổ thải tại các bãi chứa chất nạo vét trên biển được giao cho cơ quan quản lý hàng hải, cảng vụ và các lực lượng có chức năng kiểm soát tàu, phương tiện hoạt động trên biển trong các hoạt động bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường hàng hải để thực thi đồng thời các quyền, nghĩa vụ của quốc gia có tàu treo cờ, của quốc gia cảng biển và của quốc gia ven biển theo Công ước về Luật Biển năm 1982, các điều ước quốc tế của Tổ chức Hàng hải Quốc tế IMO trong quản lý, kiểm soát tàu, thuyền, cảng biển và bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường trên biển.

3.4. Nhận xét chung

    Như vậy, việc tổ chức mô hình chủ trì, phối hợp đánh giá, cấp phép, giám sát và kiểm soát hoạt động nhận chìm trên biển của các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào thể chế luật pháp, tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp hiệp đồng giữa các cơ quan, tổ chức liên quan cũng như trình độ quản lý, đầu tư trang thiết bị và khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ của mỗi quốc gia. Tuy nhiên có một số nét chung như:

   Thứ nhất: Chú trọng đến việc kiện toàn thể chế luật pháp để đáp ứng theo các quy định chung của Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996.

   Thứ hai: Thiết lập và kiện toàn bộ máy phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và có sự phân công rõ trách nhiệm cho cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp trong từng khâu cụ thể: đánh giá, cấp phép, giám sát và kiểm soát hoạt động nhận chìm trên biển cũng như các hoạt động nghiên cứu liên quan. Có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan QLNN về tài nguyên môi trường biển chủ trì trong đánh giá, cấp phép đối với các đề xuất xin nhận chìm với cơ quan QLNN về hàng hải, hàng không và với các lực lượng thực thi luật pháp trên biển.

   Thứ ba: Việc đánh giá, cấp phép đều phải tham vấn ý kiến của các cơ quan liên chính như hàng hải, môi trường, thủy sản, y tế, du lịch và các cơ quan, cộng đồng liên quan đến sử dụng tài nguyên biển.

   Thứ tư: Việc xem xét, cấp phép cho tàu hoặc máy bay xếp hàng là các chất thải, hay vật, chất lên để nhận chìm trên biển do cơ quan hàng hải đảm trách để đảm bảo chức năng, nhiệm vụ, năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp trong kiểm soát việc thực thi các quy định, quy trình kỹ thuật về bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường hàng hải và đáp ứng nhiệm vụ đầu mối quốc gia trong thực thi các công ước về hàng hải của IMO (Công ước London 1972 và Nghị định thư London 1996), đầu mối quốc gia để tiếp nhận, điều phối việc xử lý các thông tin, tai nạn sự cố về an toàn và ô nhiễm môi trường của tàu thuyền trên biển do các hoạt động chuyên chở, nhận chìm chất thải trên biển gây ra.

   Thứ năm: Cơ quan hàng hải chủ trì phối hợp với các lực lượng kiểm soát biển để quản lý các hoạt động của tàu thuyền tham gia vào việc nạo vét, chuyên chở và nhận chìm tại các bãi chứa trên biển.

4. Kết luận

    Việc nạo vét, duy tu luồng hàng hải ở nước ta là cần thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế biển chiến lược đã được thông qua tại hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Tuy nhiên, công tác quản lý các hoạt động nạo vét, duy tu luồng hàng hải và nhận chìm ở biển nước ta còn nhiều bất cập, hạn chế, do đó việc học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nước tiên tiến là rất quan trọng: kiện toàn thể chế luật pháp, bộ máy quản lý nhà nước, có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước; việc đánh giá, cấp phép đều phải tham vấn ý kiến của các cơ quan liên chính và tuân thủ theo Công ước London 1972 và Nghị định thư London 1996; Cơ quan hàng hải chủ trì phối hợp với các lực lượng kiểm soát biển để quản lý các hoạt động của tàu thuyền tham gia vào việc nạo vét, chuyên chở và nhận chìm tại các bãi chứa trên biển.

 

TS. Nguyễn Minh Trung

ThS Vũ Thị Minh Phượng

ThS. Trần Thị Liên

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Tiếng Việt III/2020)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ TN&MT (2011), Thông tư số 31/2011/TT-BTNMT về việc quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước biển (bao gồm cả trầm tích đáy và sinh vật biển), Hà Nội.

2. Chính phủ (2015), Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT, Hà Nội.

3. Chính phủ (2007), Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về việc quản lý chất thải rắn, Hà Nội.

4. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 73/2013/QĐ-TTg về việc thí điểm thực hiện cơ chế nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải do Bộ GTVT quản lý, Hà Nội.

5. Congress of United States of America (1972), The Marine Protection, Research, and Sanctuaries Act of 1972 – MPRSA, P.L. 92-532, US.

6. Government Ireland (1981), Dumping at sea Act, 1981, Ireland.

7. Bộ TN&MT (2015), Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về bãi chứa chất thải trên biển, chất thải được đổ thải trên biển và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Hà Nội.

Thống kê

Lượt truy cập: 3122810