--%>

   Gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) có phải là giải pháp đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế và bảo tồn hay không, nhất là trong bối cảnh gia tăng lây lan dịch bệnh hiện nay đang còn có những quan điểm trái chiều. Bài viết đề cập tình hình gây nuôi ĐVHD trên thế giới và tại Việt Nam, các quy định pháp luật quốc tế, trong nước và đề xuất giải pháp nâng cao quản lý hoạt động gây nuôi tại Việt Nam để bạn đọc có cái nhìn tổng quan về vấn đề này.

Tình hình gây nuôi ĐVHD trên thế giới và tại Việt Nam

    Nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại có ở nhiều quốc gia trên thế giới như Vương Quốc Anh, Cộng hòa Liên bang Đức, Đan Mạch, Cộng hòa Séc, Nam Phi, Thái Lan... Theo báo cáo của Ban Thư ký Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), có đến 27 loài thuộc ĐVHD có tên trong Phụ lục I được đăng ký nuôi sinh sản vì mục đích thương mại quốc tế với hàng nghìn cơ sở, chưa kể nhiều loài thuộc Phụ lục II CITES đang được nuôi thương mại phổ biến. Trên thế giới, các sản phẩm của ĐVHD từ các cơ sở nuôi rất đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường như làm thực phẩm (cá tầm, cá sấu); khai thác lông phục vụ công nghiệp may mặc, thời trang (lông cáo, da cá sấu, da trăn); phục vụ các nghiên cứu về y sinh (loài khỉ đuôi dài); cung cấp cho các vườn thú, hoặc vật nuôi gia đình (một số loài chim ăn thịt, cá rồng, các loài mèo lớn, thú móng guốc)...

    Tại Việt Nam, các hoạt động nuôi ĐVHD có từ rất lâu (trước những năm 1980), trong đó có nhiều loài động vật quý, hiếm đã và đang được các tổ chức, cá nhân nuôi sinh sản phục vụ mục đích thương mại. Một số loài ĐVHD thông thường được thuần hóa, lai tạo để nuôi như hươu sao, lợn rừng... Theo thống kê chưa đầy đủ, có trên 70 loài ĐVHD thuộc các lớp thú, chim, bò sát đang được gây nuôi ở các trang trại theo quy mô khác nhau tại Việt Nam như khỉ đuôi dài, cá sấu nước ngọt, trăn đất, trăn gấm, các loài rắn hổ mang thường, rắn hổ mang chúa, ba ba nam bộ, ba ba trơn, rùa răng... Một số loài được nuôi ở quy mô công nghiệp như 10 cơ sở nuôi cá sấu nước ngọt đã đăng ký quốc tế, năng lực sản xuất gần đây đạt trên 120 nghìn cá thể/năm (chưa kể các cơ sở nuôi vệ tinh nhỏ, lẻ); một số cơ sở nuôi khỉ đuôi dài có năng lực sản xuất trên 10 nghìn cá thể/năm. Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở nuôi nuôi trăn với năng lực sản xuất lên đến 200 nghìn cá thể/năm. Trong 10 năm gần đây đã có 1.081.617 tấm da trăn được xuất khẩu từ Việt Nam.

    Thống kê cả nước cho thấy, có trên 14 nghìn cơ sở nuôi ĐVHD (số liệu biến động theo thời gian, thị trường) từ quy mô hộ gia đình đến công nghiệp. Về phân vùng nuôi, cơ sở nuôi ĐVHD tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam (70%), đặc biệt là miền Đông và miền Tây Nam bộ - nơi có điều kiện thuận lợi về thời tiết, khí hậu và nguồn cung thức ăn cho ĐVHD. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở Việt Nam thực hiện nuôi thành công các loài thú quý, hiếm có nguồn gốc nhập khẩu vì mục đích trưng bày, trao đổi vườn thú như tê giác trắng châu Phi, sư tử... Về giá trị kinh tế, hoạt động nuôi ĐVHD tại Việt Nam mang lại nguồn thu trung bình trong 5 năm gần đây đạt 60 triệu USD/năm, bước đầu tạo việc làm, thu nhập cho trên 35 nghìn người lao động.

 

Tê giác trắng châu Phi được nuôi ở Vườn thú tại Việt Nam

 

Quy định pháp luật quốc tế và trong nước về gây nuôi ĐVHD

    Mục tiêu của Công ước CITES là kiểm soát buôn bán quốc tế các mẫu vật động vật, thực vật hoang dã nguy cấp được bền vững. Công ước CITES không cấm buôn bán, nuôi sinh sản, sinh trưởng ĐVHD vì mục đích thương mại, tuy nhiên có một số loài bị cấm như hổ. Công ước CITES quy định khá đầy đủ trình tự, thủ tục, điều kiện để nuôi các loài ĐVHD có tên trong Phụ lục CITES. Một trong các điều kiện tiên quyết và xuyên xuốt đó là "Việc nuôi ĐVHD không được làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn của loài trong tự nhiên". Vì vậy, hoạt động kiểm soát buôn bán mẫu vật các loài Phụ lục I có nguồn gốc sinh sản từ các cơ sở nuôi được đăng ký sẽ xem như mẫu vật của loài thuộc Phụ lục II.

    Hội nghị các quốc gia thành viên đã thông qua các Nghị quyết như: Nghị quyết 12.10 đăng ký hoạt động nuôi thương mại các loài động vật thuộc Phụ lục I; Nghị quyết 10.16 mẫu vật của ĐVHD từ các cơ sở nuôi sinh sản. Các quốc gia thành viên có trách nhiệm phải thực hiện các Nghị quyết này hoặc nội luật hóa các quy định về nuôi thương mại ĐVHD. CITES không cấm nuôi thương mại các loài ĐVHD thuộc Phụ lục I. Tuy nhiên, CITES quy định chặt chẽ các điều kiện, trình tự, thủ tục để xuất khẩu mẫu vật ĐVHD, trong đó mẫu vật có nguồn gốc tự nhiên của loài thuộc Phụ lục I sẽ bị cấm xuất khẩu vì mục đích thương mại.

    Việt Nam tham gia vào Công ước CITES năm 1994 và trở thành thành viên thứ 121/178 quốc gia. Để thực thi các nghĩa vụ đã cam kết trong khuôn khổ Công ước CITES, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chính sách về bảo vệ và buôn bán ĐVHD tương đối đầy đủ như Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Lâm nghiệp năm 2017, Luật Chăn nuôi 2018, Luật Thủy sản năm 2017 và được cụ thể hóa tại các Nghị định như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (Danh mục loài đã được sửa đổi bởi Nghị định 64/2019/NĐ-CP), trong đó Điều 13 quy định nuôi, trồng loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ; Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm và thực thi Công ước CITES, trong đó mục 2 từ Điều 14 đến Điều 18 quy định hoạt động nuôi các loài nguy cấp, quý hiếm; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT…

Quan điểm xã hội về việc gây nuôi ĐVHD

 

    Hiện nay, tại Việt Nam, việc gây nuôi thương mại ĐVHD khá phổ biến, với trên 100 loài nhân nuôi trên cả nước. Gây nuôi ĐVHD ở Việt Nam được pháp luật ủng hộ trên cơ sở nhận định rằng hoạt động này không những giúp phát triển kinh tế mà còn hỗ trợ cho công tác bảo tồn nhờ góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận dân cư, mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể thông qua xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đồng thời giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ cho công tác bảo tồn loài trong môi trường hoang dã, duy trì nguồn gen động vật nguy cấp, quý, hiếm.

    Tuy nhiên, một số nghiên cứu, khảo sát của các tổ chức bảo tồn cho thấy, nhân nuôi ĐVHD không những không có đóng góp rõ ràng cho bảo tồn, mà còn có thể tác động tiêu cực đến quần thể ĐVHD ngoài tự nhiên. Việc cho phép gây nuôi thương mại ĐVHD tạo cơ sở cho hoạt động nhập lậu ĐVHD, dẫn đến khả năng đe dọa nghiêm trọng quần thể ĐVHD trong tự nhiên, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm. Nhận định này dựa trên những khảo sát thực tế cho thấy việc nhập lậu ĐVHD vào các cơ sở chăn nuôi là khá phổ biến bên cạnh hiện tượng “rửa” ĐVHD bằng cách bán giấy phép vận chuyển từ các trang trại chăn nuôi để lưu thông ĐVHD săn bắt từ tự nhiên. Điều này cho thấy, hoạt động chăn nuôi không những làm giảm áp lực săn bắt ĐVHD ngoài tự nhiên, mà còn là “vỏ bọc”, đẩy các loài vào nguy hiểm.

    Bên cạnh đó, tình trạng chăn nuôi không đảm bảo điều kiện kỹ thuật cũng được ghi nhận tại các trang trại gây nuôi hỗn hợp các loài ĐVHD với điều kiện chăm sóc thú y kém và hầu như không biết về nguồn bệnh tiềm ẩn luôn đe dọa vật nuôi. Điều này đáng quan ngại khi đặt trong bối cảnh các nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng các dịch bệnh như SARS, tả lợn châu Phi (ASF), Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) và gần đây nhất là COVID-19 có nguồn gốc từ ĐVHD. Việc cho phép gây nuôi ĐVHD nhưng thiếu kiểm soát và quản lý chặt chẽ có thể gây ra những nguy cơ đối với sức khỏe con người và ĐVHD trong tự nhiên.

    Như vậy, có thể thấy quan điểm xã hội về vấn đề nuôi thương mại ĐVHD còn có sự khác nhau. Trên thực tế, việc nuôi ĐVHD là hoạt động có truyền thống khá lâu ở Việt Nam, trong bối cảnh là nước có xuất phát điểm thấp, nông nghiệp (trong đó có chăn nuôi) vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh đó, văn hóa, cơ cấu lao động vùng miền tác động đến hoạt động nuôi ĐVHD. Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, nơi chiếm đến 70% cơ sở nuôi ĐVHD trên cả nước; văn hóa địa phương từ lâu ĐVHD được xem như sản vật vùng ngập nước (ba ba Nam bộ, trăn, rắn các loại được cư dân địa phương khai thác tự do. Trong bối cảnh gia tăng lây lan dịch bệnh hiện nay, hoạt động nuôi thương mại ĐVHD cần được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đồng thời các cơ quan chức năng chỉ cho phép nuôi thương mại loài có khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi nhân tạo.

Các giải pháp nâng cao quản lý hoạt động nuôi ĐVHD tại Việt Nam

    Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Cần thực hiện rà soát các quy định pháp luật về hồ sơ lâm sản hợp pháp đối với ĐVHD có nguồn gốc gây nuôi. Đồng thời, quy định về việc xác nhận hồ sơ lâm sản có nguồn gốc nuôi phải được lập thành dữ liệu để công bố trên website, báo cáo với cơ quan quản lý chuyên ngành cấp Trung ương để giám sát. Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý địa phương trong giám sát hoạt động nuôi các loài nguy cấp, quý, hiếm.

    Kiểm tra, giám sát hoạt động nuôi thường xuyên để tránh việc các chủ nuôi đưa ĐVHD bất hợp pháp vào cơ sở. Cơ quan chức năng cần thực hiện kiểm tra trên diện rộng, kiểm tra định kỳ các hoạt động nuôi, vận chuyển ĐVHD để xác định lỗ hổng trong quản lý. Xây dựng cơ sở dữ liệu nuôi ĐVHD trên cả nước; xây dựng và triển khai tập huấn hướng dẫn nhận biết mẫu vật từ gây nuôi và đánh bắt từ tự nhiên cho cán bộ kiểm lâm, công an. Cơ quan quản lý CITES Việt Nam thực hiện áp dụng công nghệ trong quản lý, hướng dẫn việc thực hiện truy xuất nguồn gốc mẫu vật hoang dã, đặc biệt là với các loài thuộc Phụ lục I CITES và Nhóm IB (nhãn, thẻ, chip điện tử).

    Nâng cao năng lực các cơ quan thực thi pháp luật trong xác định đặc tính sinh học các loài nuôi; năng lực trong phân biệt nguồn gốc các mẫu vật; năng lực trong thực hiện các quy định pháp luật.

    Tăng cường quản lý an toàn dịch bệnh: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý về thú y, ĐVHD, cơ quan quản lý về môi trường để tăng cường quản lý rủi ro, xây dựng hướng dẫn an toàn sinh học trong nuôi ĐVHD và phòng ngừa các dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi.

    Thực hiện các nghiên cứu về bảo tồn nguyên vị, trong đó có nuôi sinh sản, nuôi cứu hộ và tái thả lại sinh cảnh phù hợp, đồng thời khuyến khích sự phối hợp giữa các viện nghiên cứu nhà nước với cộng đồng địa phương.

    Công bố các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi nhân tạo: Cơ quan quản lý CITES Việt Nam phối hợp với Cơ quan Khoa học CITES thực hiện rà soát, nghiên cứu và công bố danh sách các loài ĐVHD có khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi nhân tạo theo quy định tại Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.

 

Nam Việt

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 10/2020)

Thống kê

Lượt truy cập: 3237057