--%>

     Ninh Thuận là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, với đường bờ biển dài 105 km, ngoài việc thuận lợi trong khai thác, đánh bắt thủy sản, hoạt động nuôi trồng thủy sản chiếm một phần không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở các huyện Ninh Hải, Thuận Nam, TP. Phan Rang - Tháp Chàm… Đây là những địa phương có lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, hệ thống ao, đìa tập trung... Hiện nay, nuôi trồng thủy sản của huyện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn  do tình trạng ô nhiễm môi trường vùng nuôi và tác động từ biến đổi khí hậu (BĐKH) làm nước bị nhiễm mặn và điều kiện sống thích nghi bị thay đổi xuất hiện nhiều bệnh trên vật nuôi từ đó ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh.

Nguy cơ ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi trồng thủy sản

     Ninh Thuận có 105 km chiều dài bờ biển có nhiều đầm, vịnh, vùng cửa sông, bãi triều rất thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. Với đặc điểm khí hậu ít mưa, nhiều nắng, nhiệt độ trung bình năm luôn ở mức cao, độ mặn ổn định, môi trường biển trong sạch nên ngoài nghề nuôi tôm thương phẩm, Ninh Thuận còn nổi tiếng nhờ nghề sản xuất tôm giống và các hải đặc sản khác. Giá trị nuôi trồng thủy sản năm 2019 đạt 6.505,134 tỷ đồng chiếm 56,35% so với tỷ trọng toàn ngành nông nghiệp toàn tỉnh.

     Trong nuôi trồng thủy sản, thế mạnh của Ninh Thuận là nuôi tôm (tôm thẻ chân trắng và tôm sú) và sản xuất tôm giống, đây là hai ngành nghề mang lại hiệu quả cao nhất. Ninh Thuận là địa phương đi đầu trong cả nước về nghiên cứu và sản xuất tôm giống bố mẹ, phục vụ ngành sản xuất tôm giống trong nước và xuất khẩu. Ninh Thuận hiện có 498 cơ sở sản xuất tôm giống, với hơn 1.200 trại tôm, sản xuất hàng năm trên 32 tỷ con tôm giống, cung cấp 40% nhu cầu con giống cho cả nước.

     Mặc dù, nghề nuôi tôm thâm canh mang lại nhiều lợi nhuận, góp phần giải quyết công ăn việc làm của địa phương. Tuy nhiên, việc thiếu quy hoạch và không tuân thủ các quy định về mùa vụ, mật độ nuôi, phòng trị bệnh, xử lý nước thải... đã làm môi trường nuôi trồng thủy sản bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo đó, việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, chất kháng sinh để xử lý bệnh cho tôm, không chỉ gây tác động xấu đến môi trường sản xuất mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh. Ngoài ra, tình trạng các hộ nuôi và cơ sở nuôi trồng thủy sản chưa có ý thức trong việc cải tạo ao nuôi, xử lý bùn thải không đúng quy định (một số nơi vẫn còn xảy ra tình trạng bơm bùn thải trực tiếp ra các kênh nội đồng, hay khi tôm chết cũng thải nước trực tiếp ra các kênh thủy lợi, hoặc xả trực tiếp ra biển), vừa gây nguy cơ lây lan dịch bệnh cho các hộ khác, vừa gây ô nhiễm trực tiếp cho nguồn nước ngầm, nước mặt, làm ảnh hưởng đến môi trường sống cho người dân khu vực xung quanh khu vực.

 

Cống nước của khu nuôi tôm thuộc xã An Hải, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận xả nước thải chưa qua xử lý ra biển

 

      Đơn cử như tình trạng các trại nuôi tôm thương phẩm đã xả nước thải trực tiếp ra biển ở khu nuôi tôm trên cát thuộc xã An Hải, huyện Ninh Phước rộng 143 ha, gây ô nhiễm môi trường nhưng không được xử lý dứt điểm. Gần đây, cử tri địa phương và UBND xã cũng đã có ý kiến thông qua kỳ họp tiếp xúc cử tri với HĐND tỉnh để có hướng xử lý. Tại đây, hàng trăm ống xả thải của các hộ nuôi tôm đấu nối vào cống lớn. Từ đó, nước xả thải chảy vào một ao lắng rộng lớn, qua một cống khác thoát trực tiếp ra biển. Theo Sở NN&PTNT tỉnh Ninh Thuận, dự án hệ thống nuôi tôm trên cát được đầu tư xây dựng từ năm 2004, trong đó có ao T3 (dài 90m, rộng 6,5m và sâu 2,5m), dung tích chứa 14.180 m3 nước xả thải của hơn 100 ha đìa nuôi tôm thương phẩm. Do van cống lấy nước vào ao T3 và van cống thoát nước ra biển bị hỏng nên ao không tích được nước thải để thực hiện các khâu xử lý lắng, khử mùi trước khi xả trực tiếp ra biển. Tạp chất, xác tôm lắng tại ao T3 lâu ngày tạo thành lớp bùn dày và bốc mùi hôi khi thời tiết khô. Từ năm 2009, ao T3 được giao cho Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận quản lý. Tuy nhiên, sau đó một số hạng mục bị xuống cấp, không thể vận hành đóng - mở nước, đáy ao bị bồi lắng chất thải gây ô nhiễm khiến người dân bức xúc. Nhằm khắc phục ô nhiễm, hiện công ty đang sửa chữa van cống nhận - thoát nước thải, nạo vét, tích nước lắng cơ học và phối hợp với Chi cục Thủy sản xử lý ô nhiễm bằng chế phẩm sinh học tại ao T3 để không ảnh hưởng môi trường.

     Bên cạnh đó, tình trạng hơn 100 lồng bè nuôi thủy sản trên biển Bình Sơn (TP. Phan Rang - Tháp Chàm), xả một lượng thức ăn dư thừa trong quá trình nuôi tôm, cá, cùng rác và chất thải sinh hoạt của lao động trên bè xuống biển, theo sóng đánh xô vào bờ, gây ô nhiễm môi trường biển. Từ năm 2013, UBND tỉnh Ninh Thuận đã phê duyệt Quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản ở vịnh Phan Rang, với 3 tiểu vùng là C1, C2, C3 có tổng diện tích mặt nước 760 ha. Trong đó, vùng C1, C2 (huyện Ninh Hải) là vùng biển hở nên vào mùa gió Tây - Nam thổi mạnh (tháng 4 - 8 hàng năm) các lồng bè thường di chuyển về tránh trú tại khu vực biển Bình Sơn - Ninh Chữ. Trước tình trạng trên, UBND TP. Phan Rang - Tháp Chàm đã vận động, cưỡng chế các bè nuôi thủy sản tại khu vực biển Bình Sơn - Ninh Chữ, buộc di dời về vùng C1, C2 theo quy hoạch. Tuy nhiên, vào mùa gió Tây - Nam hàng năm, nhiều hộ nuôi trồng thủy sản tiếp tục di chuyển về khu vực biển Bình Sơn - Ninh Chữ để tránh trú, gây ảnh hưởng đến hoạt động du lịch biển, không gian bãi tắm khu vực biển Bình Sơn. Đầu tháng 8/2019, tỉnh Ninh Thuận đã xác định lại tọa độ trên biển theo quy hoạch trước đây một cách hợp lý, an toàn để khoanh định vùng nuôi theo đúng quy định của pháp luật làm cơ sở quản lý các lồng bè nuôi thủy sản tại khu vực biển Bình Sơn, không để tình trạng các lồng bè phát triển tự phát khó kiểm soát như hiện nay.

     Ngoài ra, BĐKH cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, thu hẹp và hủy hoại chất lượng môi trường sống của các loài thủy, hải sản. Tình trạng xâm nhập mặn sâu vào nội địa làm biến đổi hệ sinh thái vùng, giảm chất lượng và trữ lượng thủy sản nuôi trồng. Theo kết quả đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng ở tỉnh Ninh Thuận cho thấy, đất phục vụ cho mục đích thủy sản ở khu vực ven biển là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Ngoài ra, nhiệt độ tăng cao làm cho môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại, phát sinh dịch bệnh. Trong những năm gần đây, do môi trường vùng nuôi bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết, đã gây ra hiện tượng tôm sú chết hàng loạt… Dịch bệnh tôm nuôi có xu hướng tăng, trong năm qua có 160 ha ao đìa nuôi tôm bị dịch bệnh, trong đó một số bệnh mới chưa tìm được nguyên nhân. 

     Đề xuất một số giải pháp

    Với chủ trương tiếp tục khai thác và phát huy thế mạnh kinh tế thủy sản, trong phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2020 - 2025, tỉnh Ninh Thuận đã đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản bình quân đạt 2-3%/năm, chiếm 51 - 52% trong cơ cấu ngành nông nghiệp. Thực hiện mục tiêu trên, Ninh Thuận cũng đã hình thành và phát triển nhiều vùng nuôi tôm ở các huyện Ninh Phước, Thuận Nam, Ninh Hải... Hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng được tổ chức theo hướng đầu tư ứng dụng công nghệ cao, với mô hình nuôi tôm thẻ thương phẩm quy mô lớn. Ngoài ra, còn phát triển mô hình nuôi thủy sản sinh thái kết hợp với trồng rừng ngập mặn ở vùng ven biển, vùng đầm, phá…

     Cùng với đó, để đáp ứng nhu cầu tôm giống trong cả nước, UBND tỉnh Ninh Thuận đã có định hướng sản xuất giống thủy sản đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, tỉnh sẽ quy hoạch hai khu vực cho sản xuất giống thủy sản tập trung ở An Hải và Nhơn Hải; trong đó, khu sản xuất giống An Hải sẽ mở rộng thêm diện tích nuôi 186 ha. Đồng thời, tỉnh cũng xây dựng dự án và tìm nguồn lực để đầu tư với mục tiêu xây dựng thành khu sản xuất giống thủy sản tập trung, mang tính đồng bộ,  hiện đại, ứng dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất, tạo con giống chất lượng cao. Với khu vực sản xuất giống thủy sản Nhơn Hải, quy mô 100 ha hiện nay đang tập trung 60% các cơ sở sản xuất giống, tỉnh sẽ quy hoạch lại các hệ thống cấp thoát, xử lý nước, giao thông, điện…một cách đồng bộ; thực hiện việc tổ chức lại mô hình sản xuất theo hướng liên kết, tập trung, nhằm đảm bảo sản xuất lâu dài, ổn định và bền vững.

     Trong thời gian tới, để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản, tỉnh Ninh Thuận cần triển khai những giải pháp:

     Thứ nhất, Sở NN&PTNT tỉnh cần tổ chức tập huấn kỹ thuật, khuyến cáo lịch thời vụ nuôi trồng thủy sản cho các hộ nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở các quy định về điều kiện sản xuất, tiêu chí đối với vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, các quy định về sử dụng tài nguyên nước và xử lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản để hạn chế ô nhiễm môi trường, thực hiện cải tạo hoặc chuyển đổi đối tượng nuôi hợp lý đối với những vùng nuôi tập trung đã bị ô nhiễm. Đồng thời, các cơ quan liên quan thực hiện các chương trình giám sát, quan trắc môi trường định kỳ, cảnh báo môi trường ở các vùng nuôi tập trung, vùng cửa sông, ven biển để kịp thời phát hiện, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường. Thông báo thường xuyên về kết quả quan trắc môi trường các vùng nước nuôi tôm trong tỉnh đến hộ dân, thông qua đó giúp nông dân nhận định được tình hình nuôi và  ứng dụng các phương pháp nuôi mới áp dụng vào thực tế sản xuất.

     Thứ hai, đối với chất thải rắn thông thường phát sinh (chất thải sinh hoạt, bao bì đựng thức ăn, hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, xác tôm chết…) cần được thu gom, xử lý đúng quy định và định kỳ thực hiện việc vệ sinh môi trường xung quanh khu vực nuôi trồng thủy sản. Trường hợp đã gây ô nhiễm môi trường, hoặc sự cố môi trường do hoạt động nuôi trồng của mình gây ra thì cần kịp thời phối hợp với cơ quan liên quan tìm ra nguyên nhân, thực hiện các giải pháp khắc phục nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả ô nhiễm môi trường khu vực xung quanh.

     Thứ ba, để đảm bảo chất lượng tôm giống, trong quá trình sản xuất, các cơ sở cần tuân thủ theo quy định của ngành thủy sản; đồng thời chú trọng ứng dụng  khoa học kỹ thuật và hoàn thiện cơ sở sản xuất khép kín từ khâu nhập tôm giống bố mẹ đến việc giám sát quá trình sinh sản con giống.

     Thứ tư, ứng dụng công nghệ cao và tiết kiệm năng lượng trong nuôi trồng thủy sản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và thân thiện môi trường. Xây dựng và vận hành các mô hình nuôi luân canh, nuôi kết hợp, sử dụng công nghệ nuôi tiết kiệm nước… hạn chế xả thải, đảm bảo an toàn sinh học và BVMT.

     Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về  BVMT đối với các cơ sở nuôi trồng thủy sản; tổ chức lại mô hình các hộ gia đình sản xuất theo hình thức hợp tác, tổ chức cộng đồng hoặc hợp tác xã, tăng cường sự hỗ trợ trong sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm.  

 

Nguyễn Thị Thu Hà

Viện Địa lí nhân văn

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 10/2020)

 

 

 

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3237074