--%>

   Hiện nay, Bộ TN&MT đang trong quá trình hoàn thiện Dự án Luật BVMT (sửa đổi). Một trong những nội dung mới được đưa vào Dự thảo Luật, tại Điều 106 là áp dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất (BAT). Đây là cách tiếp cận mới trong chính sách phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm dựa trên công nghệ. Nhằm đề xuất cách thức thực hiện BAT tại Việt Nam, tại số báo trước, nhóm tác giả đã đưa ra ba kịch bản lựa chọn tiếp cận BAT tại Việt Nam: Kịch bản thấp - kịch bản cơ sở; Kịch bản trung bình - Kịch bản cơ sở kết hợp danh mục BAT quốc tế và Kịch bản cao - kịch bản cơ sở kết hợp danh mục BAT quốc tế và nguồn mới. Trong số này, nhóm tác giả xin tiếp tục giới thiệu một số đề xuất về lộ trình thực hiện BAT tại Việt Nam.

 

Hội thảo khoa học "BAT và Tham vấn hoàn thiện quy định BAT trong Dự thảo Luật BVMT (sửa đổi)” tổ chức tại Ninh Bình, ngày 24/9/2020

 

    Hiện nay, trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam còn có khoảng cách khá xa so với các quốc gia phát triển trên thế giới. Do vậy, nếu Việt Nam áp dụng kịch bản cơ sở, phổ biến các giá trị công nghệ thấp của Việt Nam đang có sẽ không thúc đẩy được sự phát triển, đưa các tiêu chuẩn quốc gia tiếp cận gần với trình độ phát triển trên thế giới. Kịch bản trung bình với việc bổ sung tiêu chuẩn BAT quốc tế cũng chưa phải là kịch bản hoàn hảo. Các doanh nghiệp (DN) Việt Nam, vì nhiều lý do, đang gặp khó khăn trong đổi mới công nghệ, sử dụng công nghệ cách đây 20 - 30 năm là thực tế phổ biến. Với thực trạng như vậy, việc áp các tiêu chuẩn cao ngay vào nhóm DN hiện hành với trình độ quản lý yếu kém, năng lực đầu tư hạn chế, sẽ khó khả thi. Kết quả của các cuộc tham vấn DN về việc áp dụng BAT bắt buộc, đã phản ánh rõ điều đó.

    Kịch bản cao với việc áp dụng BAT hướng ưu tiên đến nguồn mới là sự bổ sung cần thiết và khắc phục được nhược điểm của các kịch bản trước đó. Việt Nam sẽ lựa chọn nhóm ngành có nhiều thuận lợi nhất trong việc tiếp thu áp dụng BAT để triển khai trong bước đi đầu tiên. Đó là các nguồn mới quy mô lớn, các DN có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) hoặc tư nhân đã được đánh giá cao về tính khả thi áp dụng BAT. Trong kịch bản này, Việt Nam chấp nhận 2 cơ chế cấp phép môi trường. Các DN hiện hành sẽ vẫn thực thi cấp phép theo cách thức cũ truyền thống. Trong khi, các DN đầu tư mới, quy mô lớn sẽ yêu cầu phải có giấy phép tích hợp BAT. Các tiêu chuẩn BAT được áp dụng tham chiếu trực tiếp từ danh mục BAT quốc tế. Tài liệu hướng dẫn này cũng sẽ là nguồn tham khảo tốt cho các DN khác hướng tới sự thay đổi tự nguyện. Lựa chọn kịch bản cao cũng rút ngắn được thời gian điều tra và đưa BAT vào áp dụng, do có sẵn danh mục BAT quốc tế để tham khảo. Dự kiến thời gian hiệu lực BAT là 2 năm thay vì 4 năm như cách thông thường. Từ đây, kiến nghị lựa chọn kịch bản cao, đây là kịch bản phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam. Lộ trình các bước triển khai BAT của Việt Nam về cơ bản gồm các bước như các nước đã thực hiện, nhưng là lộ trình rút gọn. Theo đó, lộ trình và các bước đi cụ thể như: Xây dựng khung luật quy định BAT; Các nghị định dưới Luật; Phân công đầu mối; Thành lập các Nhóm công tác kỹ thuật (TWGs); Lựa chọn đối tượng/ngành; Điều tra thu thập thông tin công nghệ; Đánh giá và lựa chọn BAT; Xây dựng hồ sơ tham chiếu BAT; Phê chuẩn và thực thi. Chi tiết các nội dung từng bước đi gồm:

Xây dựng khung luật quy định BAT

    Việt Nam đang xây dựng Luật BVMT (sửa đổi). Kiến nghị đưa vào luật quy định về việc áp dụng BAT trong các cơ sở có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Trong Luật BVMT (sửa đổi), một số quy định khung liên quan đến BAT còn có: Đối tượng áp dụng BAT; cơ quan thẩm quyền phê duyệt hồ sơ tham chiếu BAT; cấp phép môi trường, giấy phép tích hợp BAT. Về đối tượng áp dụng BAT, việc áp dụng BAT phụ thuộc vào ngành lĩnh vực được lựa chọn, loại hình DN. Loại hình DN cụ thể ở đây là các DN đầu tư mới, DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), DN quy mô lớn, chiếm tỷ trọng phát thải cao. Các DN trên yêu cầu phải có giấy phép tích hợp BAT.

    Cơ quan thẩm quyền phê duyệt hồ sơ tham chiếu BAT (BREFs) tại Việt Nam có thể là Bộ TN&MT thay mặt cho Chính phủ hoặc cao hơn là Thủ tướng Chính phủ sẽ phê duyệt Hồ sơ này. Đây là cơ sở để đưa tiêu chuẩn vào giấy phép môi trường và có hiệu lực thực thi trong cả nước sau khi được phê chuẩn. Về cấp giấy phép môi trường, luật khung các nước quy định về giấy phép môi trường có tích hợp các giá trị giới hạn phát thải (BAT-AEL). Loại giấy phép tích hợp này được cấp cho các đối tượng tại danh mục/phụ lục của Luật hoặc Nghị định.

    Trong điều kiện Việt Nam, việc quy định về cung cấp thông tin công nghệ đối với các DN được điều tra về BAT là cần thiết. Trong Luật, quy định rõ về điều kiện bảo mật, đối tượng được tiếp cận thông tin và không tiết lộ thông tin DN cho bên thứ ba. Luật cũng cần quy định rõ các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng thực thi BAT, hỗ trợ tài chính như đưa vào danh mục cấp tín dụng xanh, nghiên cứu chuyển giao công nghệ và các cơ chế thưởng phạt khác như thuế, phí, quan trắc…

Các nghị định dưới Luật

    Bên cạnh các quy định về BAT trong Luật BVMT (sửa đổi) đang xây dựng, Việt Nam cần xây dựng thêm nghị định quy định chi tiết các chất ô nhiễm cần kiểm soát và các ngành có khả năng phát thải ô nhiễm tiềm tàng. Nhiều chuyên gia cho rằng 17 loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại Phụ lục IIa, Nghị Định số 40/2019/NĐ-CP, là không đầy đủ cần xem xét lại. Vì vậy, Nghị định tới cần làm rõ và hoàn thiện danh mục này. Việt Nam hiện chưa có danh mục các chất ô nhiễm không khí, nước và đất như các nước. Kiến nghị trong Nghị định tới đây, bên cạnh hoàn thiện danh mục các loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, còn phải bổ sung danh mục cụ thể các chất ô nhiễm.

    Ngoài ra, việc xây dựng, ban hành Nghị định liên quan đến trình tự, thủ tục xác định BAT là rất cần thiết trong khung luật của Việt Nam. Trong nghị định này, nội dung cơ bản gồm quy định trình tự các bước thực hiện xác định BAT, tiêu chí lựa chọn BAT, ra quyết định phê duyệt BREF, phân công đầu mối trách nhiệm, thành lập TWGs, phối hợp với các bên liên quan, căn cứ và tiêu chí lựa chọn đối tượng áp dụng BAT. Nghị định cần phải làm rõ các khái niệm như nguồn mới là những nguồn nào, quy mô lớn là quy mô nào, định lượng theo lượng thải hay tiêu chí khác.

Phân công đầu mối trách nhiệm

    Đầu mối trách nhiệm để triển khai BAT sẽ được quy định trong Nghị định. Bộ TN&MT là đầu mối chịu trách nhiệm chung, hoặc có thể chỉ định một đầu mối thuộc Bộ. Có thể tham khảo trường hợp tại các nước như: Hàn Quốc giao cho Viện Nghiên cứu môi trường Quốc gia, hay Nga thành lập mới một cục chuyên trách BAT (Cục BAT) trực thuộc Bộ TN&MT của Nga.

Thành lập nhóm làm việc kỹ thuật (TWGs)

     Nhóm làm việc kỹ thuật sẽ do đầu mối thuộc Bộ TN&MT chủ trì và phối hợp các bộ/ngành thành lập. Cần quy định rõ trách nhiệm cho đơn vị đầu mối thành lập TWGs. Trong kịch bản Việt Nam lựa chọn sẽ có 2 nhóm TWGs. Nhóm điều tra DN trong nước/thông tin công nghệ trong nước và nhóm điều tra thông tin BAT nước ngoài.

Lựa chọn ngành/đối tượng áp dụng BAT

    Việc lựa chọn ngành/đối tượng điều tra và áp dụng BAT dựa vào mức độ tác động xấu tới môi trường. Thông số quan trọng nhất là tỷ trọng phát thải của ngành/DN. Điều quan trọng là phải có tiêu chí lựa chọn. Kịch bản lựa chọn của Việt nam hướng đến các nguồn mới. Để thực hiện được dễ dàng, việc có thể dự báo được tiêu chí nguồn mới cần được xác định rõ trong Luật hoặc nghị định. Danh mục ngành ô nhiễm và các chất ô nhiễm cần công bố ngay trong Nghị định để định hướng BAT và lựa chọn đối tượng áp dụng BAT.

Điều tra thông tin và lựa chọn BAT

    Có hai hướng điều tra: Điều tra thông tin công nghệ trong nước và danh mục BAT nước ngoài. Các điều tra trong nước chủ yếu để đánh giá trình độ công nghệ, mức độ phát thải của từng loại hình công nghiệp, không phải để áp dụng BAT. Điều tra danh mục BAT nước ngoài để xây dựng hồ sơ tham chiếu BAT (BREF). Hồ sơ sẽ là cơ sở để tích hợp giấy phép. Các đầu tư mới sẽ phải có giấy phép này trước khi xây dựng. Điều tra cũng được phân theo ngành, quy mô và giới hạn điều tra do TWG quyết định.

Xây dựng hồ sơ tham chiếu BAT

     TWG sẽ thành lập Hồ sơ tham chiếu BAT (danh mục BAT nước ngoài). Trình tự và thủ tục xác định/kết luận BAT có thể tham khảo hướng dẫn của EU gồm các bước: Họp khởi động của TWGs; Đưa ra Dự thảo kết luận để lấy ý kiến; Cuộc họp kết luận của TWG; Kết luận BAT cuối cùng; Diễn đàn trao đổi; Hội đồng quốc gia bỏ phiếu biểu quyết; Đưa ra Quyết định cuối cùng về lựa chọn BAT. Kết luận cuối cùng về BAT sẽ được đưa vào BREF. Các giá trị BAT-AEL sẽ được tích hợp vào giấy phép theo ngành. Các nguồn mới thay vì nhận được giấy phép như trước, thể hiện nồng độ ô nhiễm và tải lượng phát thải, nay sẽ thay thế bằng giấy phép như vậy nhưng có tích hợp các giá trị BAT-AEL.

Phê chuẩn và thực thi

    Theo kinh nghiệm quốc tế, các nước phải trình BREF lên Chính phủ để phê duyệt trước khi áp dụng. Việt Nam có thể ủy quyền Bộ TN&MT thông qua BREF và các thông số BAT-AEL (BAT đi cùng với giới hạn phát thải). Luật BVMT (sửa đổi) cần định rõ cơ quan cao nhất phê duyệt hồ sơ này. Theo quy định, không chậm hơn 6 tháng sau khi phê duyệt, BAT chính thức có hiệu lực thi hành. Việc điều tra thông tin trong nước không ảnh hưởng đến quá trình xác định BAT, và lập BREF.

    Do Việt Nam thực hiện quy trình rút gọn xác định BAT, tham chiếu trực tiếp các danh mục BAT của nước ngoài nên có thể rút ngắn thời gian điều tra so với lộ trình mà các nước đang áp dụng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc sớm thực hiện BAT sẽ tạo ra cơ hội hết sức thuận lợi để Việt Nam nhanh chóng rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển trên thế giới.

 

Lê Minh Đức

Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam

Nguyễn Thị Hồng Lam

Viện Khoa học Môi trường

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 10/2020)

Thống kê

Lượt truy cập: 3237193