--%>

Tài nguyên đất và nước đang chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu và con người và biến đổi khí hậu. Nậm Cắn là xã biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, là địa bàn sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong đó người H’mông chiếm đến 70%. Tài nguyên đất và nước đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân địa phương nhưng vẫn còn ít được quan tâm và sử dụng thiếu bền vững.


     Tóm Tắt

     Tài nguyên đất và nước đang chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu và con người và biến đổi khí hậu. Nậm Cắn là xã biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, là địa bàn sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong đó người H’mông chiếm đến 70%. Tài nguyên đất và nước đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân địa phương nhưng vẫn còn ít được quan tâm và sử dụng thiếu bền vững. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng hai nguồn tài nguyên này để hướng đến sử dụng bền vững. Kết quả cho thấy,đất chưa có biểu hiện ô nhiễm bởi kim loại nặng nhưng lại nghèo đạm, kali, dẫn đếngây khó khăn trong trồng trọt, sản xuất nông nghiệp. Chất lượng nước tại đâycủa khu vực đáp ứng được các mục đích sử dụng trong nông nghiệp, nhưng chưa đạtcòn đối với mục đíchsinh hoạt, sản xuất còn chưa đạt và cần có giải pháp xử lý. Để sử dụng bền vững tài nguyên đất cần tăng cường các giải pháp kỹ thuật chăm sóc và cải tạo đất, che phủ đất và áp dụng các mô hình trồng xen cây họ đậu, trồng cỏ chống xói mòn. Các điểm dân cư tập trung cần đầu tư xây dựng các mô hình xử lý nước nhỏ lẻ phục vụ cho nhu cầu của cộng đồng.

     Từ khóa: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, sử dụng bền vững, Nậm Cắn, khu vực biên giới.

     Nhận bài: Ngày 20/7/2020; Sửa chữa: 17/8/2020; Duyệt đăng: 18/8/2020

     1. Đặt vấn đề

     Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng [1],trong đó tài nguyên đất và nước là các đối tượng nhạy cảm đối với tác động của BĐKH. Việt Nam là quốc gia được xếp vào loại khan hiếm đất, bình quân đất đầu người xếp thứ 159 và chỉ bằng khoảng 1/6 bình quân của thế giới [2].,Ttài nguyên nước cũng được đánh giá là cóhứa nhiều yếu tố kém bền vững [3]. Thêm vào đó, BĐKH đã làm diện tích đất bị thoái hóa ngày càng nhiều hơn, dễ làm nảy sinh các vấn đề an ninh, trật tự, xung đột về lợi ích môi trường và văn hóa.

     Với chiều dài hơn 2.337 km, vùng biên giới Việt - Lào có vị trí đặc biệt quan trọng về Anan ninh - qQuốc phòng nhưng kinh tế - xã hội còn kém phát triển, trình độ và nhận thức của người dân tại đây còn nhiều hạn chế. Trong cơ cấu kinh tế của các xã biên giới Việt - Lào, ngành nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối. ,Đđời sống của người dân địa phương phụ thuộc lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất, nước và rừng. Việc thúc đẩy phát triển được kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống sẽ thúc đẩy được sự phát triển xã hội, nâng cao trình độ giáo dục, nhận thức và góp phần làm ổn định xã hội, an ninh biên giới. Nghiên cứu này được thực hiện như là một nghiên cứu điểm về chất lượng tài nguyên đất và nước và định hướng sử dụng bền vững cho các xã khu vực biên giới Việt - Lào. 

     2. Tổng quan về xã Nậm Cắnkhu vực nghiên cứu

     Đường biên giới Việt - Lào dài khoảng 2.340 km, kéo dài qua 10 tỉnh của Việt Nam và tiếp giáp với 10 tỉnh của Lào. Đường biên giới Việt - Lào vùng Tây Bắc dài 1.220/2.340 km trải dài suốt 4/10 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên (360 km), Sơn La (250 km), Thanh Hóa (192 km), Nghệ An (419,5 km), tiếp giáp với 5 tỉnh Phông Sa Lỳ, Luông Pha Băng, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay của Lào. Khu vực biên giới Việt – Lào vùng Tây Bắc là khu vực núi non hiểm trở, đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém so với các vùng khác trong toàn quốc. Đường liên thôn, bản, xã vẫn là đường mòn, đi bộ, đi ngựa là chủ yếu. Nền kinh tế còn kém phát triển vớikinhtế nông - lâm nghiệp vẫn là chủ đạo. Mặt khác, đây còn là một vùng có nhiều dân tộc sinh sống, tạo ra nhiều sắc thái văn hóa đa dạng; nhiều di tích lịch sử, nhiều nguồn suối khoáng nóng. Những tiềm năng này tạo cho khu vực những thế mạnh trong phát triển ngành du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng và chữa bệnh.

     Với các đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và xã hội của khu vực biên giới Việt Lào vùng Tây Bắc, xã Nậm Cắn là một xã điển hình đã được lựa chọn trong nghiên cứu này. Xã Nậm Cắn là một trong những xã nghèo nhất cả nước, nằm ở phía Tây Bắc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, có tổng diện tích tự nhiên là 9.031,07 ha, có đường biên giới dài 17km với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và thông thương qua cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Hình 1).Địa hình xã Nậm Cắn hiểm trở có độ dốc lớn,khí hậu có tính chất nhiệt đới gió mùa vùng cao với nhiệt độ tương đối ôn hòa 20-25oC và lượng mưa trung bình khoảng 1.650mm [4]. Theo đề án xây dựng nông thôn mới, rừng tại xã Nậm Cắn chủ yếu là rừng tự nhiên, chủ yếu có trữ lượng gỗ trung bình (3.785,8 ha), diện tích rừng nghèo vẫn còn cao (1.340,8 ha).  

     Xã có 4 dân tộc chính với 70% là dân tộc H'mông, còn lại là Khơ Mú, Thái và Kinh [5]. Xã bao gồm 6 bản là Tiền Tiêu, Trường Sơn, Khánh Thành, Noọng Dẻ, Huổi Pốc và Paca với đa số nằm dọc trên quốc lộ 7A là nơi có trung tâm hành chính của xã. Hoạt động kinh tế của người dân chủ yếu là nông - lâm nghiệp (chiếm 80-90% cơ cấu kinh tế), thu nhập bình quân đạt 15,215 triệu đồng/người/năm, thuộc loại thấp, tỷ lệ hộ nghèo chiếm đến 48,8% toàn xã (2017).

     3. Phương pháp nghiên cứu

     Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, sử dụng đất và nước được thu thập tại UBND xã Nậm Cắn.Độ dốc địa hình được phân tích bằng phương pháp GIS và viễn thám. Hoạt động khảo sát thực địa, lấy mẫu được tiến hành vào tháng 4/2018.ĐTrong quá trình khảo sát đã thu thập 40 mẫu nước (20 mẫu nước sinh hoạt, 10 mẫu nước ao, 9 mẫu nước suối và 1 mẫu nước hồ thủy điện) và 20 mẫu đất (10 mẫu đất đồi, 7 mẫu đất vườn và 3 mẫu đất ruộng) để đánh giá chất lượng môi trường đất và nước. Các thông số nhiệt đô, pH, Eh, TDS, DO và độ đục trong nước được đo ngay tại hiện trường sử dụng máy Horiba D-54, Horiba DO110 và Hanna HI93703. Hàm lượng kim loại nặng trong mẫu nước (Pb, Cu, Zn, Mn, Fe, As) và trong mẫu đất được phân tích trong phòng thí nghiệm bằng hệ thống quang phổ hấp phụ nguyên tử (AAS 280FS, Agilent),riêng As được xử lý bằng hệ thống hóa hơi VGA77. Tổng N, tổng P và tổng K2O lần lượt được xác định bằng phương pháp chuẩn độ, so màu (LVIS 400) và quang kế ngọn lửa (PFP 7). Xác định hàm lượng chất hữu cơ thông qua lượng chất mất khi nung (LOI).

 

Hình 1.Sơ đồ vị trí xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An và các điểm lấy mẫu đất và nước

     4. Kết quả và bàn luậnthảo luậnnghiên cứu

     4.1. Tài nguyên đất

     Tổng diện tích tự nhiên của xã Nậm Cắn là 9.031,07 ha,trong đó, đất sản xuất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất (87%)(Hhình 3ình 2). Đất trồng trọt có diện tích nhỏ (gần 10%) tuy nhiên mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống, mang lại sinh kế hàng ngày cho người dân (Hình 2).

 

Hình 2. Cơ cấu sử dụng đất của xã Nậm Cắn

 

     Đất thuộc 4 loại chủ yếu: Đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá cát kết, đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá vôi, đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến sét và đất feralit mùn vàng trên núi. Trong đó, đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến sét và đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá vôi chiếm diện tích lớn nhất, lần lượt là 4.794,06 ha (53,06%) và 3.894,25 ha (chiếm 43,10%).Dựa vào độ dốc, tài nguyên đất được phân thành 6 mức khác nhau, bao gồm: đất bằng phẳng có độ dốc từ 0 - 3o chiếm 0,44%, đất lượn sóng có độ dốc từ 3 - 8o chiếm 3,06%, đất hơi dốc có độ dốc từ 8 - 15o chiếm 12,15%, đất dốc có độ dốc từ 15 - 20o chiếm 17,45%, đất khá dốc có độ dốc từ 20 - 25o chiếm 20,63% và rất dốc có độ dốc trên 25o chiếm 46,26%. Nhóm đất có độ dốc trên 25o chiếm tỷ lệ lớn nhất, chỉ thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp; nhóm đất bằng phẳng (<15o) thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm diện tích nhỏ nhất. Kết quả phân tích này cho thấy địa hình của khu vực dốc, tài nguyên đất tuy rộng nhưng việc sử dụng lại hạn chế. Bên cạnh đó, độ dốc lớn nên tài nguyên đất dễ bị xói mòn và thoái hóa, đặc biệt khi diện tích rừng che phủ bị suy giảm.

Kết quả phân tích kim loại nặng trong các mẫu đất tại Nậm Cắn cho thấy, Fe, Cd, Cu và Pb phân bố từ đồng đều đến rất đồng đều trong khi Zn và As, đặc biệt là Mn lại kém đồng đều hơn (Bảng 1). Nhìn chung, đất đồi trong vùng nghiên cứu có hàm lượng các kim loại nặng Fe, Cd, Mn, Pb và As cao hơn so với các loại đất khác. Trong đó phải kể đến Mn có hàm lượng trung bình tại đất đồi cao hơn gấp đôi so với hàm lượng trung bình trong đất ruộng và đất vườn. Trong khi đó, đất ruộng lại tập trung hàm lượng Cu và Zn cao hơn so với đất đồi và đất vườn. So sánh với Quy chuẩn QCVN03-MT:2015/BTNMTthì hàm lượng kim loại nặng trong các loại đất tại đây xã Nậm Cắn đều thấp hơn giới hạn cho phép trong tiêu chuẩn.Cần Tuy nhiên, lưu ý,  các kim loại Cu với hàm lượng là 86,02 - 88,03 mg/kg và ,Zn với hàm lượng là 165,09 mg/kg trong đất tại bản Pa Cađãcao gần bằng giới hạn cho phép trong đất nông nghiệp.

Bảng 1 . Hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu đất tại xã Nậm Cắn

 

Tham số

Fe

(mg/kg)

Cd

(mg/kg)

Cu

(mg/kg)

Mn

(mg/kg)

Pb

(mg/kg)

Zn

(mg/kg)

As

(mg/kg)

Toàn vùng (n=20)

Min

3.681,59

25,17

32,56

30,98

10,69

41,52

1,49

Max

4.521,71

84,94

88,03

1.872,54

20,81

165,09

8,51

TB

4.222,91

56,05

50,89

243,20

14,91

92,16

3,92

S

219,71

18,43

14,07

438,64

2,94

37,62

1,80

V (%)

5

33

28

180

20

41

46

Đất đồi (n=10)

Min

3.681,59

25,17

34,21

30,98

10,69

41,67

2,06

Max

4.521,71

84,94

86,02

1.872,54

20,81

144,34

8,51

TB

4.275,94

55,01

53,13

490,13

15,20

85,89

4,26

Đất ruộng (n=3)

Min

4.161,54

29,26

45,68

44,98

11,3

41,52

1,67

Max

4.286,67

73,18

88,03

327,51

18,37

165,09

4,18

TB

4.208,39

52,01

62,73

210,50

14,08

101,69

2,69

Đất vườn (n=7)

Min

3.756,04

30,17

32,56

90,3

11,79

60,46

1,49

Max

4.284,01

69,47

54,89

477,31

15,62

142,57

5,38

TB

4.071,80

54,64

47,80

228,03

14,20

99,25

3,71

QCVN 03 A

 

1.500

100

 

70

200

15

QCVN 03 B

 

3.000

150

 

100

200

20

 

     Trong đó: Min là hàm lượng nhỏ nhất, Max là hàm lượng lớn nhất, TB là hàm lượng trung bình, S là độ lệch chuẩn, V là hệ số biến phân, QCVN 03 là QCVN03-MT:2015/BTNMT, A là đất nông nghiệp, B là đất lâm nghiệp.

     Với hàm lượng tổng P trong khoảng 0,01% đến 0,10% cho thấy đất tại xã Nậm Cắnthuộc loại từ rất nghèo đến nghèo phốt pho; ,duychỉ có đất đồiđược lấytại bản Khánh Thành là có hàm lượng tổng P trung bình (Bảng 2). Đối với tổng nitơ, giá trị hàm lượng dao động từ 0,05% đến 0,21%, hầu hết là đất nghèo đến trung bình nitơ. Tuy nhiên, đất ruộng tại xãbảnHuổi Pốc lại giàu nitơ (tổng N = 0,21%), rất có thể ruộng tại đây được bón bổ sung đạm trong quá trình canh tác.Hàm lượng tổng K2O dao động trong khoảng 0,62 - 3,49%, biểu hiện đất từ trung bình đến giàu kali, ngoại trừ đất đồi tại Huổi Pốc là đất nghèo kali (tổng K2O < 1%). Với hàm lượng chất hữu cơ dao động trong khoản 3,74 - 8,42%, đất tại xã Nậm Cắn từ khá đến giàu chất hữu cơ. Hàm lượng chất hữu cơ trong đất ruộng (4,37%) thấp hơn so với đất vườn (5,64%- 7,31%).

     4.2. Tài nguyên nước

     Tổng lượng mưa bình quân tại Nậm Cắn vào khoảng 2.076 mm/năm. Mùa mưa thường bắt đầu sớm vào đầu tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 hàng năm, tập trung cao nhất vào tháng 8 và tháng 9[6]. Lượng mưa tại xã cao hơn khá nhiều so với mặt bằng chung của toàn huyện Kỳ Sơn (1.157 mm/năm)[7]. Chế độ mưa tại đâyxãcó ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất của người dân tại xã. Mạng lưới thủy văn của xã Nậm Cắn thuộc hệ thống sông Cả với , mang đặc trưng sông miền núi nên lòng sông Cả hẹp, độ dốc lớn từ 5 - 15o. Sông, suối có lưu lượng nhỏ vào mùa khô nhưng lớn vào mùa mưa, thườngnhiều khi gây ra lũ[8]. Nước sinh hoạt và sản xuất của người dân được khai thác từ các dòng suối này. Ngoài ra, tận dụng lợi thế của địa hình, người dân đã xây dựng các ao nhỏ để trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên nước ngầm hiện chưa đượccó cácđánh giá cụ thể.

Bảng 2. Các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất tại xã Nậm Cắn

 

Tổng P (%)

Tổng N (%)

Tổng K2O (%)

Chất hữu cơ (%)

Toàn vùng

n=10

n=10

n=10

n=11

0,01-0,10

0,05-0,21

0,62-3,49

3,74-8,42

(0,04)

(0,14)

(1,96)

(5,90)

Đất đồi

n=8

n=8

n=8

n=8

0,01-0,10

0,05-0,19

0,62-3,49

3,74-8,42

(0,04)

(0,12)

(2,20)

(5,95)

Đất vườn

n=1

n=1

n=1

n=2

0,04

0,18

0,96

5,64-7,31

Đất ruộng

n=1

n=1

n=1

n=1

0,02

0,21

1,05

4,37

     Trong đó: giá trị trong ngoặc là hàm lượng trung bình

     Kết quả đo hiện trường các thông số nhiệt độ, pH, Eh, DO, TDS, EC và độ đục cho thấy chất lượng nước mặt tại xã Nậm Cắn nhìn chung vẫn còn tốt (Bảng 3). Nhiệt độ của nước bề mặt tương đối thấp do nằm trên vùng núi có độ cao lớn và chế độ khí hậu ôn hòa; .pH của nước dao động trong khoảng 6,3 - 8,4 cho thấy môi trường biến đổi từ axit yếu đến kiềm mạnh. Nước mặt có tính kiềm là do nước chảyvận động qua các tầng đá vôi của hệ tầng Bắc Sơn. Nước hồ và nước suối biểu hiện môi trường khử yếu (Eh < 40mV);, nước ao biểu hiện từ môi trường khử yếu đến ôxy hóa yếu. Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) trong nước mặt tương đối thấp, dưới mức giới hạn cho phép của QCVN08-MT:2015 cho mục đích bảo tồn động vật thủy sinh, ngoại trừ các ao cá ở bản Huổi Pốc có hàm lượng ôxy hòa tan cao hơn. Giá trị Eh biểu hiện từ khử yếu đến ôxy hóa yếu và ôxy hòa tan thấp cho thấy trong nước mặt có tồn tại một loại chất khử có hàm lượng cao đã tiêu tốn lượngôxy hòa tan trong nước. Tổng chất rắn hòa tan (TDS) trong nước mặt thấp,nằm trong giới hạn cho phép của BộY tế, đảm bảo cho người dân Nậm Cắn sinh hoạt và ăn uống. Giá trị độ đục có biến động lớn giữa các loại nước mặt khác nhau, cao trong nước ao và thấp tại các suối.

     Đối với kim loại nặng trong nước mặt, Cu phân bố đồng đều với hệ số biến phân V = 27%, Pb, As, Fe và Zn phân bố tương đối đồng đều với hệ số biến phân dao động trong khoảng 49 - 60%, Mn và Cd phân bố rất không đồng đều với hệ số biến phân V = 124 - 142% (Bảng 3). Nhìn chung, chất lượng nước mặt tại vùng nghiên cứu còn tốt, đáp ứng được yêu cầu cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bảo tồn động, thực vật thủy sinh và các mục đích khác. Tuy nhiên, hàm lượng Mn trong nước khá cao và có nơivượt qua giới hạn A1. Giá trị Mn trong nước cao có thể là nguyên nhân làm cho hàm lượng ôxy hòa tan của nước thấp vì Mn trong nước bị ôxy hóa từ Mn2+ ở dạng hòa tan thành Mn4+ ở dạng kết tủa làm tiêu tốn ôxy.

Bảng 3. Các chỉ tiêu của nước mặt tại xã Nậm Cắn

 

Tham số

t

pH

Eh

DO

TDS

EC

Độ đục

Mn

Cd

Cu

Pb

As

Fe

Zn

 

oC

 

mV

mg/l

mg/l

dS/m

NTU

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

TV

Min

17,6

6,3

-12

3,1

53

0,08

0,9

0,00

0,1

0,01

-

-

0,01

0

Max

29,4

8,4

61

7,1

463

0,71

165,0

0,12

1,2

0,03

3,1

2,7

0,08

0,04

TB

20,9

7,6

22

4,3

224

0,34

16,5

0,04

0,3

0,02

1,5

1,6

0,04

0,02

S

3,3

0,5

25

0,8

101

0,15

36,1

0,03

0,3

0

0,8

0,7

0,02

0,01

V (%)

16

7

133

19

49

49

626

124

142

27

60

49

51

54

A

Min

17,8

6,3

-12

3,1

53

0,08

0,9

0,00

0,1

0,01

-

-

0,01

0,01

Max

27,1

7,9

61

7,1

286

0,45

165,0

0,11

0,7

0,03

3,0

2,6

0,06

0,04

TB

21,5

7,3

34

4,4

177

0,27

26,8

0,04

0,3

0,02

1,5

1,5

0,04

0,02

H

 

21,1

7,3

18

3,8

238

0,37

7,8

0,03

0,12

0,01

0,95

1,43

0,03

0,03

S

Min

17,6

7,5

-6

3,8

136

0,21

0,9

0,00

0,1

0,01

0,7

1,0

0,01

0,00

Max

29,4

8,4

26

4,8

463

0,71

16,0

0,12

1,2

0,03

3,1

2,7

0,08

0,04

TB

20,2

7,9

9

4,2

274

0,42

6,0

0,04

0,3

0,02

1,5

1,7

0,04

0,03

 

A1

 

6-8,5

 

≥6

1.000* 

 

 

0,1

5

0,1

20

10

0,5

0,5

 

A2

 

6-8,5

 

≥5

   

0,2

5

0,2

20

20

1,0

1,0

 

B1

 

5,5-9

 

≥4

   

0,5

10

0,5

50

50

1,5

1,5

 

B2

 

5,5-9

 

≥2

 

 

1,0

10

1,0

50

100

2,0

2,0

 

     Trong đó: TV là toàn vùng với n=30, A là ao với n=10, H là hồ với n=1, S là suối với n=9, Min là hàm lượng nhỏ nhất, Max là hàm lượng lớn nhất, TB là hàm lượng trung bình, S là độ lệch chuẩn, V là hệ số biến phân, (-) là dưới giới hạn phát hiện, in đậm là vượt giá trị giới hạn trong quy chuẩn; A1, A2, B1, B2 là giá trị giới hạn trong QCVN08-MT:2015/BTNMT tương ứng với các mục đích sử dụng khác nhau, (*) là giá trị tới hạn theo QCVN 01:2009/BYT.

     Qua quá trình khảo sát cho thấy, toàn bộ các hộ gia đìnhdẫn nước suối vềđể sinh hoạt và ăn uống mà không qua bất kỳ biện pháp xử lý nào. Kết quả phân tích 20 mẫu nước sinh hoạt cho thấy, chất lượng nước sinh hoạt tại địa phương vẫn tương đối tốt khi hầu hết giá trị đều thấp hơn giới hạn theo quy định của Bộ Y tế (Bảng 4). Tuy vậy,nước cấp tại bản Huổi Pốc có giá trị pH cao (9,7) và 10/20 mẫu độ đục vượt quá giới hạn cho phép đối với nước ăn uống và sinh hoạt.

     4.3. Thảo luận

     Một trong những vấn đề gặp phải tại các xã biên giới Tây Bắc nói chung và Nậm Cắn nói riêng là độ dốc của địa hình rất lớn, độ che phủ của đất thấp nên đ. Đất bịchịu ảnh hưởngcủa xói mòn;, rửa trôi từ phương thức canh tác nương rẫy, luân canh liên tục, nên đất không có thời gian phục hồi;, không hoặc rất ít sử dụng phân bón là những nguyên nhân làm cho đất Nậm Cắn ngày càng nghèo kiệt về dinh dưỡng. Ngoài yếu tố độ dốc, các loại đất nông nghiệp của xã là loại đất được hình thành tại chỗ, tầng đất mỏng, lẫn nhiều đá vụn, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bộ rễ của cây trồng, hạn chế quá trình làm đất. Đất tương đối nghèo nàn về mặt dinh dưỡng. N,ngoại trừ chất hữu cơ,  thì các thành phần đạm, lân, kali tương đối thấp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây trồng. Chính vì đất bằng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp rất ít, mức độ dinh dưỡng của đất nghèo làm năng suất cây trồng thấp là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, thúc đẩy sự di cư của đồng bào dân tộc thiểu sốđể tìm kiếm những vùng đất mới hoặc những công việc có thu nhập tốt hơn, ví dụ như vào Tây Nguyên. Do vậy, để người dân ổn định đời sống cần có giải pháp tăng sinh kế cho người dân, tập trung vào cải thiện khả năng canh tác của đất. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự xói mòn, bảo vệ đất, tăng sự phì nhiêu của đất và chống thoái hóa đất dốc. Một số phương pháp kỹ thuật có thể kể đến như là che phủ đất, trồng xen các loại cây họ đậu và cỏ khi canh tác trên đất dốc.

Bảng 4. Các chỉ tiêu của nước ăn uống và sinh hoạt của xã NậmCắn

Tham số

t

pH

Eh

DO

TDS

EC

Độ đục

Mn

Cd

Cu

Pb

As

Fe

Zn

 

oC

 

mV

mg/l

mg/l

dS/m

NTU

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

mg/l

 

Min

17,9

7,0

-80

1,5

37

0,06

0,2

0,00

0,05

0,01

0,27

0,27

0,01

0,00

 

Max

29,0

9,7

68

10,4

497

0,79

22,1

0,11

0,55

0,02

6,50

2,28

0,06

0,04

 

TB

23,6

7,9

18

4,8

251

0,39

3,0

0,03

0,24

0,02

1,86

1,14

0,02

0,01

 

S

2,8

0,6

36

1,6

150

0,23

4,7

0,04

0,13

0,00

1,41

0,56

0,02

0,01

 

V (%)

12

8

265

36

57

57

266

310

62

24

83

47

114

122

 

1

 

6,5-8,5

 

 

1000

 

2

0,3

3,0

1,0

10,0

10,0

0,3

3,0

2

 

6,5-8,5

 

 

 

 

5

 

 

 

 

 

0,5

 

                                                     
 

     Trong đó: Min là hàm lượng nhỏ nhất, Max là hàm lượng lớn nhất, TB là hàm lượng trung bình, S là độ lệch chuẩn, V là hệ số biến phân, in đậm là vượt giá trị giới hạn trong quy chuẩn; QCVN 01 là QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02 là QCVN 02:2009/BYT.

     Nước mặt cũng như nước sinh hoạt tại địa phương còn khá tốt nhưng vẫn còn có một số chỉ tiêu vượt quá quy chuẩn cho phép đối với môi trường nước. Một trong các biện pháp để xử lý vấn đề này là xây dựng hồ chứa nước tập trung và các bể tích nước hộ gia đình. Nguồn nước sau khi dẫn về sẽ được lắng vài ngày trước khi sử dụng. Với các cụm dân cư tập trung, đầu tư xây dựng các trạm xử lý nướcứng dụng công nghệ siêu lọc kết hợp với vật liệu đa năngnhư mô hìnhthí điểm tại Hà Giang [9].

     5. Kết luận

     Diện tích đất sửư dụng cho mục đích nông nghiệp tại xã Nậm Cắn thấp chiếm khoảng 10%, nguyên nhân là do khu vực nàycó độ dốc của địa hình lớn. Đất tại đâyđã có biểu hiện của sự suy thoái do độ che phủ của đất thấp nên đất dễ bị xói mòn; bên cạnh đó việc canh tác nương rẫy, luân canh liên tục, khiến cho đất không có thời gian phục hồi cùng với việc không hoặc rất ít sử dụng phân bón khiến cho đất ngày càng nghèo kiệt về chất dinh dưỡng. Cần có các biện pháp cải tạo đất như trồng xen các loại cây họ đậu và cỏ khi canh tác trên đất dốc.

     Nước mặt của xã Nậm Cắn còn tốt ngoại trừ hàm lượng Mn khá cao trong nước. Nước sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu khá tốt, tuy nhiên, có nhiều điểm khảo sát có độ đục lớn hơn quy chuẩn cho phépdo ngườiuowifdân dẫn nước suối trực tiếp về để sinh hoạt mààm không qua xử lý. Để khắc phục tình trạng này có thể tập trung đầu tư xây dựng các trạm xử lý nước ứng dụng công nghệ siêu lọc kết hợp với vật liệu đa năng như mô hình thí điểm tại Hà Giang.

     Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc, ĐHQGHN (Đề tài KHCNTB.19C/13-18).

 

 

Nguyễn Tài Tuệ1, Trần Đăng Quy1,2

 Lương Lê Huy2, Nguyễn Thùy Linh2, Nguyễn Phương Thúy2, Lê Thị Lý2

Vũ Ngọc Minh3

1Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

2Trung tâm nghiên cứu Biển và Đảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

3Viện Khoa học môi trường, Tổng cục Môi trường

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt III/2020)

 

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

     [1] Eckstein David, Vera Künzel và Laura Schäfer, Global climate risk index 2018, Germanwatch, Bonn (2017).

     [2] Mai Hạnh Nguyên, Đánh giá tổng quát tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất đai và các biện pháp ứng phó, Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai (2012).

     [3] Lê Bắc Huỳnh, Suy giảm tài nguyên nước và nguy cơ mất an ninh nguồn nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam - Lấy ví dụ dãy Trường Sơn, 2017.

     [4] Cổng thông tin điện tử huyện Kỳ Sơn, Điều kiện tự nhiên huyện Kỳ Sơn (truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2019), 2012.

     [5] Field Christopher B, Climate change 2014: Impacts, Adaptation and Vulnerability - Regional aspects, Cambridge University Press, 2014.

     [6] Trịnh Thị Minh Giang, Hôn nhân xuyên biên giới của người H'mông tại xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ khoa học, Học viện Khoa học Xã hội, 2016.

     [7] UBND xã Kỳ Sơn, Báo cáo thuyết minh kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ An,  (2017).

     [8] Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Báo cáo kết quả Điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá tỉ lệ 1:50000 khu vực miền núi tỉnh Nghệ An,  (2014).

     [9] Đặng Xuân Thường, Nguyễn Phú Duyên và Lê Văn Thạch, Xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng, Tạp chí Khoa học - Công nghệ và Đổi mới 11 (2017).

 

Assessing soil and water resources quality in Nam Can commune, Ky Son district, Nghe An province for sustainable resource use

Nguyễn Tài Tuệ1, Trần Đăng Quy1,2

 Lương Lê Huy2, Nguyễn Thùy Linh2, Nguyễn Phương Thúy2, Lê Thị Lý2

Vũ Ngọc Minh3

1Falculty of Geology, VNU - University of Science

2Sea and Island Research Center, VNU - University of Science

3Environmental Science Institute, Vietnam Environment Administration

 

     Abstract

     Soil and water resources have been negatively affected by climate change and anthropogenic activities. Nam Can is a border commune located in the Northwest of Nghe An Province, which is the living area of ethnic minorities including 70% of H’mong people. Although, soil and water resources play an important role in the livelihood of the locals, they are less concerned and used unsustainably. This study was conducted in order to assess the quality of these resources towards sustainable use. The results show that the soil has not been contaminated by heavy metals, however, there is poor nitrogen and potassium concentration, causing difficulties in cultivation and agricultural production.The water quality of the area meets the requirements of agricultural activities, but it is still not able to reach the domestic and production purposes, so it is necessary to have a solution to deal with. In order to make the sustainable use of soil resources, technical solutions to take care of and improve soil quality and land cover, and application of models of intercropping legumes and grasses against erosion should be strengthened. The highly concentrated residential areas need to invest in building small water treatment models to satisfy the demand of the community.

     Keywords: Soilresources, waterresources, sustainable use, Nam Can, border areas.

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3095794