--%>

    Đặt cọc - hoàn trả (Deposit – Refund) là một loại công cụ kinh tế áp dụng trong quản lý môi trường. Theo đó, các tổ chức, cá nhân tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa có khả năng gây ô nhiễm hoặc tác động xấu đến môi trường phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng và sẽ được nhận lại khoản tiền đó (hoàn trả) sau khi tiêu dùng và mang bao bì đóng gói sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm “trả lại” cho các đơn vị thu gom tại những địa điểm quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý theo cách an toàn đối với môi trường. Bên cạnh việc hoàn lại tiền cho những người tiêu dùng khi trả lại sản phẩm cho các trung tâm thu gom tái chế “hạ nguồn”, thời gian gần đây nhiều chương trình đặt cọc - hoàn trả lại có những cải tiến theo hướng liên quan đến sản xuất, hay “thượng nguồn”. Tức là, dùng tiền đặt cọc để tài trợ người thu gom vật liệu để giao cho nơi xử lý, tái chế hoặc tài trợ chính người tái chế khi họ biến vật liệu thu thập được thành vật liệu thứ cấp có thể sử dụng được để sản xuất ra sản phẩm mới.

    Phạm vi áp dụng các hệ thống đặt cọc - hoàn trả có thể bao gồm: (i) các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có thể xử lý tái sử dụng hoặc tái chế; (ii) các sản phẩm tạo lượng chất thải lớn, đòi hỏi các bãi chứa có quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu huỷ; (iii) các sản phẩm chứa chất độc hại, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu huỷ không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người.

    Các quốc gia thuộc tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã áp dụng khá thành công hệ thống đặt cọc - hoàn trả đối với các sản phẩm đồ uống, bia, rượu (đựng trong vỏ chai nhựa hoặc thuỷ tinh), mang lại hiệu quả cao cho việc thu gom các chất thải. Các nước này thậm chí đã và đang mở rộng việc áp dụng hệ thống đặt cọc - hoàn trả sang các lĩnh vực khác như vỏ tàu, ô tô cũ, dầu nhớt, ắc quy có chứa chì, thủy ngân, cadimi; vỏ chai đựng thuốc trừ sâu, các đồ điện gia dụng như máy thu hình, tủ lạnh, điều hòa không khí...

    Tại khu vực Đông Á, Hàn Quốc, Đài Loan cũng đã có thành công nhất định trong việc áp dụng hệ thống đặt cọc - hoàn trả đối với vỏ lon, vỏ chai nhựa, thuỷ tinh, sắt, thép, nhôm phế liệu, ắc quy, săm lốp, dầu nhớt, giấy loại,...

Đặt cọc – hoàn trả với vỏ lon/chai

    Hệ thống đặt cọc - hoàn trả đối với các loại vỏ lon/chai đựng đồ uống được áp dụng sớm nhất và khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Mỹ, hệ thống 'hóa đơn chai' này ban đầu được áp dụng để hạn chế việc xả rác. Sau đó đã được áp dụng ở hàng chục tiểu bang và mở rộng sang các loại bao bì và sản phẩm khác.

    Oregon là bang đầu tiên ở Mỹ đã thông qua Luật đặt cọc vỏ lon/chai vào năm 1971. Luật áp dụng một khoản đặt cọc đối với tất cả các lon/chai bia và nước ngọt, khoản tiền này được hoàn lại khi người dùng trả lại các vỏ lon/chai để tái chế. Tính đến giữa năm 2011, mười một chương trình được áp dụng ở 10 bang và nhiều tỉnh. Hầu hết các bang áp dụng tiền đặt cọc - hoàn trả ở mức 5 cent cho mỗi lon/chai nhỏ hơn 24 ounce và 10 cent cho các lon/chai lớn hơn. Ở tất cả các bang ngoại trừ California, mức đặt cọc này vẫn giữ nguyên trong những năm qua, không có sự gia tăng do lạm phát. Cơ chế đặt cọc - hoàn trả căn cứ vào “hóa đơn chai” truyền thống hoạt động thông qua các nhà phân phối và bán lẻ, trong đó các nhà bán lẻ đóng vai trò là người trung gian. Cụ thể, các nhà bán lẻ trả cho nhà phân phối một khoản tiền đặt cọc cho mỗi lon/chai được mua; các nhà bán lẻ sau đó thu các khoản tiền đặt cọc từ người tiêu dùng mua đồ uống. Khi người tiêu dùng trả lại một lon/chai để tái chế, nhà bán lẻ sẽ hoàn lại tiền đặt cọc và khấu trừ số tiền đó từ nhà phân phối. Do không phải tất cả các lon/chai đều được trả lại, một số khoản tiền đặt cọc chưa hoàn lại vẫn còn trong hệ thống và các nhà bán lẻ hay nhà phân phối sẽ được hưởng. Riêng ở Michigan và Massachusetts, khoản tiền này được nộp lại cho chính quyền bang.

    Các chương trình đặt cọc - hoàn trả ở California và Hawaii hoạt động hơi khác. Các nhà bán lẻ vẫn thu tiền đặt cọc từ người tiêu dùng và chuyển khoản tiền đó cho nhà phân phối. Đến lượt mình, các nhà phân phối trả tiền đặt cọc cho chính quyền bang. Hệ thống này tránh được việc chuyển tiền hoàn lại và vỏ lon/chai giữa các nhà bán lẻ và nhà phân phối. Người tiêu dùng có thể trả lại vỏ lon/chai tại nhiều địa điểm khác nhau và nhận tiền hoàn lại trực tiếp từ chương trình do nhà nước quản lý. Như vậy, tất cả các khoản tiền đặt cọc không có người nhận lại vẫn thuộc về ngân sách nhà nước.

    Một số nghiên cứu gần đây dựa trên kết quả khảo sát quốc gia về các hộ gia đình của Mỹ cho thấy chương trình đặt cọc - hoàn trả có tác động lớn đến việc tái chế chai nước nhựa trong gia đình. Tại các bang có quy định trả tiền đặt cọc đối với chai nước nhựa, 87% số người trả lời khảo sát cho biết họ đã tái chế 80% hoặc nhiều hơn số chai mà họ sử dụng. Ở các bang không có hệ thống đặt cọc - hoàn trả, tỷ lệ tái chế là 53%. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng công cụ kinh tế này chi phối tác động của các chuẩn mực xã hội đối với việc tái chế.

Đặt cọc - hoàn trả với các loại pin

    Bốn mươi bốn tiểu bang ở Hoa Kỳ áp dụng một số chương trình đặt cọc - hoàn trả đối với pin axit-chì. Nhiều tiểu bang đã sử dụng luật mẫu do Hội đồng Pin quốc tế (BCI) phát triển, khuyến nghị các nhà bán lẻ tính phí (đặt cọc) 10 đô la đối với tất cả các loại pin; khoản phí được trả lại nếu khách hàng mang pin đã sử dụng nộp lại để tái chế trong vòng 30 - 45 ngày kể từ ngày mua. Theo Chỉ số chu kì kinh tế  (BCI), do chì trong pin rất có giá trị nên ngay cả khi không có hệ thống đặt cọc - hoàn trả, sản phẩm này vẫn có tỷ lệ tái chế cao tới 86%. Tuy vậy, việc thải bỏ chì bừa bãi có thể gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng, vì vậy vẫn cần đến sự can thiệp của Chính phủ. Với việc áp dụng rộng rãi hệ thống đặt cọc - hoàn trả, tỷ lệ tái chế đối với pin axit - chì đã tăng lên 97%. Hơn nữa, nhựa trong pin hiện cũng được tái chế với tỷ lệ khá cao - từ 60% đến 80%, theo BCI.

Đặt cọc - hoàn trả với các loại lốp xe

    Việc vứt bỏ bừa bãi lốp xe hỏng, hay vứt lốp xe nguyên chiếc tại các bãi chôn lấp có thể gây ra vấn đề môi trường nghiêm trọng. Các đống lốp xe phế liệu có thể bắt lửa và cháy trong thời gian dài - đôi khi tới hàng năm. Các đống lốp xe này cũng là nơi sinh sản của muỗi và đã được chứng minh có thể làm rò rỉ các hóa chất độc hại vào nước ngầm. Để gây quỹ nhằm thúc đẩy tái chế và thải bỏ hợp lý, hầu hết các bang ở Mỹ hiện đều tính phí đặt cọc khi mua lốp xe. Mức đặt cọc thường dao động từ 0,5 đến 2 đô la đối với lốp xe khách và từ 3 đến 5 đô la đối với lốp xe tải nặng.
Các khoản đặt cọc này thường không được hoàn lại cho người tiêu dùng như trong các chương trình đặt cọc lon/chai và ắc quy axit-chì. Tiền thu từ khoản đặt cọc được sử dụng để trợ cấp cho các cơ sở thực sự tái chế lốp xe phế liệu hoặc bán các sản phẩm làm từ lốp xe phế liệu. Phương pháp đặt cọc - hoàn trả “thượng nguồn” này có một số ưu điểm so với hệ thống bán lẻ "hạ nguồn" truyền thống, tránh được các chi phí giao dịch và hành chính liên quan đến việc thu gom và phân loại rác tái chế sau tiêu thụ. Ngoài ra, việc hoàn trả tiền cho người chế biến thay vì người tiêu dùng đồng nghĩa với việc ít giao dịch hơn, điều này cũng làm giảm chi phí quản lý. Việc khuyến khích chế biến hơn là thu gom có ​​thể giúp tránh các trường hợp vật liệu được thu gom để tái chế nhưng không thực sự được tái chế. Các cơ sở tái chế chỉ được trả trợ cấp (hoàn trả) khi họ mua nguyên liệu để tái chế và bán để sử dụng làm đầu vào sản xuất sản phẩm mới.

Đặt cọc - hoàn trả với dầu máy đã qua sử dụng

    Canađa có một chương trình quốc gia tái chế dầu đã qua sử dụng theo mô hình “thượng nguồn”. Chương trình được thực hiện ở các tỉnh bởi một Hiệp hội ngành công nghiệp dầu mỏ (không phải bởi Chính phủ). Chương trình bắt đầu ở các tỉnh Alberta, Manitoba và Saskatchewan của Tây Canađa nhưng hiện đã phổ biến ở hầu hết các tỉnh, dựa vào một khoản phí - được gọi là 'phí xử lý môi trường' - được thanh toán bởi tất cả các nhà cung cấp bán buôn dầu động cơ, thiết bị lọc và thùng chứa dầu. Khoản thu phí đặt cọc được sử dụng để trả "khuyến khích hoàn trả" cho những người thu gom và vận chuyển dầu đã qua sử dụng tới các cơ sở chế biến được chính phủ phê duyệt. Điều thú vị là, mặc dù khoản tiền được hoàn trả cho những người thu gom và vận chuyển được ủy quyền, nhưng những người thải bỏ dầu đã qua sử dụng cũng đã được hưởng lợi: những người thu gom ở Alberta đã trả cho các nhà phát điện tới 37% “khuyến khích hoàn trả” cho việc thu dầu đã qua sử dụng và 35% cho các thiết bị lọc dầu. Chương trình của Canađa đã đạt tỷ lệ tái chế khá cao ở các tỉnh khác nhau, từ 77% đến 91% dầu đã qua sử dụng. Các thùng chứa và thiết bị lọc dầu trước đây không hề được tái chế, nay đạt tỷ lệ tái chế lần lượt từ 50% đến 88% và 77% đến 91%.

    California (Mỹ) cũng có một chương trình tương tự Canađa đối với dầu đã qua sử dụng. Đạo luật Tăng cường tái chế dầu của California yêu cầu các nhà sản xuất phải trả  0,27 đô la cho mỗi gallon dầu máy được bán tại tiểu bang. Phí này được hoàn lại cho những người thu gom được chứng nhận, bao gồm những người thu gom lề đường và cơ sở phát điện công nghiệp với mức 0,40 đô la cho mỗi gallon thu gom lề đường; máy phát điện công nghiệp nhận được 0,16 đô la/ gallon. Bắt đầu từ năm 2013, các nhà tái chế cũng nhận được ưu đãi là 0,02 đô la/gallon dầu bôi trơn được sản xuất từ ​​dầu đã qua sử dụng được thu gom ở California. Hệ thống đặt cọc - hoàn trả “thượng nguồn” này cũng tạo ra tỷ lệ tái chế tương đối cao. Năm 2007, sản lượng dầu bôi trơn tái chế bằng 58,9% sản lượng bán ra trong năm đó; chiếm khoảng 35% lượng dầu được đốt cháy trong quá trình sử dụng, có nghĩa là tỷ lệ tái chế khoảng 90%.

Đặt cọc - hoàn trả với sản phẩm điện dân dụng

     Việc tái chế các sản phẩm điện tử như máy tính, ti vi, điện thoại di động và các mặt hàng điện tử khác, những thứ đang chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong dòng chất thải, rất khó khăn và tốn kém. Cách tiếp cận được nhiều nước châu Âu áp dụng để giải quyết vấn đề là “thu hồi lại sản phẩm”, hay còn gọi là “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất” (EPR). Các chương trình này yêu cầu các nhà sản xuất thu lại sản phẩm từ người tiêu dùng ở giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm và đảm bảo rằng một phần xác định của vật liệu trong sản phẩm được tái chế. Năm 2003 bang California (Mỹ) đã thông qua “Đạo luật tái chế chất thải điện tử năm 2003: Hệ thống thanh toán chất thải điện tử được bảo hiểm (SB 20/SB 50)”, cho phép đánh giá “phí tái chế chất thải” đối với việc bán lẻ thiết bị điện tử. Các quy định tiếp theo đánh giá phí tivi, màn hình máy tính và máy tính xách tay; vào năm 2011, phí dao động từ 6 đến 10 đô la, tùy thuộc vào kích thước màn hình. Nguồn thu từ phí được sử dụng để thanh toán các khoản “khuyến khích tái chế” cho những người thu gom và tái chế được ủy quyền. Chương trình này là một ví dụ khác về hệ thống đặt cọc – hoàn trả “thượng nguồn”.

Đặt cọc - hoàn trả với “Thiết kế vì môi trườngTrách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất” (EPR)
    Năm 1991, Đức đã thông qua sắc lệnh bao bì nổi tiếng của mình, trong đó yêu cầu các nhà sản xuất thu hồi bao bì gắn với sản phẩm của họ sau khi tiêu thụ và đảm bảo rằng một tỷ lệ cụ thể trong số đó được tái chế mỗi năm. (Hệ thống này thường được gọi là “Green Dot” với các chấm màu xanh lá cây được đính trên các bao bì đủ điều kiện để thu hồi). Động lực cho cách tiếp cận "thu hồi" sản phẩm, sau đó đã lan rộng ra nhiều quốc gia khác ở châu Âu, Nhật Bản và nhiều nơi khác, là cung cấp khuyến khích cho các nhà sản xuất thực hiện các thay đổi nhằm giảm chi phí quản lý chất thải. Những thay đổi đó có thể bao gồm việc giảm kích thước sản phẩm, cải tiến khả năng tái chế và tái sử dụng của sản phẩm, thay thế vật liệu và tham gia vào một loạt các hoạt động “thiết kế vì môi trường” (DfE). Tư duy là nếu các nhà sản xuất bị bắt buộc phải thu hồi và quản lý sản phẩm ở giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm, họ sẽ đầu tư vào các biện pháp DfE để giảm chi phí quản lý đó.

    Khái niệm thu hồi đã dần được thay thế trong chính sách bằng các khái niệm chung hơn về “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất” (EPR) và “quản lý sản phẩm”. OECD định nghĩa EPR như một cách tiếp cận chính sách trong đó trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm của mình kéo dài đến giai đoạn sau tiêu thụ trong vòng đời sản phẩm; trách nhiệm này có thể là về vật chất - như việc thu hồi, hoặc trách nhiệm tài chính - người sản xuất chịu chi phí quản lý chất thải cuối vòng đời. Hệ thống đặt cọc - hoàn trả tương thích với khái niệm EPR và trên thực tế, EPR đã được triển khai ở nhiều quốc gia và các phiên bản của đặt cọc - hoàn trả đã được chấp nhận. Trong nhiều chương trình, một khoản phí trả trước được xác định dựa trên việc bán sản phẩm và số tiền thu được sau đó sẽ sử dụng để tài trợ cho các chương trình thu gom và tái chế. Tại Đức, hầu hết các nhà sản xuất không tự thu hồi sản phẩm mà một “tổ chức trách nhiệm của nhà sản xuất” đảm nhận việc thu gom, tái chế và trang trải chi phí dịch vụ thông qua thu phí của công ty thành viên. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các loại hệ thống này cung cấp các biện pháp khuyến khích giảm thải tại nguồn, nhưng tác động thúc đẩy quá trình tái chế còn hạn chế.

Kết luận và một số gợi ý đối với áp dụng đặt cọc - hoàn trả ở Việt Nam

    Thực tiễn trên thế giới cho thấy công cụ đặt cọc - hoàn trả được áp dụng khá phổ biến, có tiềm năng khá lớn trong quản lý chất thải, được coi là một trong những “ứng cử viên sáng giá” cho các chính sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính (khai thác à nguyên liệu thô à sản phẩm à chất thải) để hướng tới chu trình tuần hoàn, trong đó các tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa có thể được. Theo kinh nghiệm các nước, mức đặt cọc là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả của hệ thống đặt cọc - hoàn trả. Các mức đặt cọc thấp sẽ không tạo ra động cơ kinh tế đủ mạnh cho việc thu gom và tái chế chất thải. Ngoài ra các yếu tố như nhận thức và ý thức của người sản xuất và tiêu dùng đối với vấn đề thu gom chất thải, khả năng tổ chức, quản lý hệ thống thu gom cũng như vấn đề công nghệ tái chế đều có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động và sự thành công của hệ thống.

    Việc áp dụng công cụ đặt cọc - hoàn trả là vấn đề khá mới trong quản lý chất thải ở Việt Nam. Việc sửa đổi Luật BVMT đang được triển khai sẽ là cơ hội để đưa ra những quy định mới nhằm thúc đẩy áp dụng công cụ đặt cọc - hoàn trả trong quản lý chất thải ở Việt Nam. Một số nội dung liên quan cần nghiên cứu quy định trong Luật BVMT (sửa đổi) gồm:

  • Khuyến khích các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm hàng hóa áp dụng cơ chế đặt cọc – hoàn trả trong việc thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế bao bì đóng gói sản phẩm. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế bao bì có trách nhiệm: thiết kế bao bì đóng gói sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn cho tái sử dụng, tái chế và phải công khai thông tin số tiền đặt cọc của từng loại bao bì sản phẩm; thiết lập và công bố các điểm thu hồi bao bì và hoàn trả tiền đặt cọc để người tiêu dùng biết và thực hiện hoàn trả; hoàn trả tiền đặt cọc khi nhận lại các bao bì và thanh toán chi phí thu gom cho các điểm thu hồi bao bì; chi phí thu gom được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và điểm thu hồi bao bì.
  • Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì khó có khả năng tái chế, chứa các chất độc hại hoặc ảnh hưởng quá trình thu gom, xử lý chất thải thuộc danh mục do Chính phủ quy định phải (bắt buộc) thực hiện cơ chế đặt cọc - hoàn trả theo quy định và phải đóng góp kinh phí hỗ trợ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải; trừ các sản phẩm đã được xuất khẩu hoặc sản phẩm tạm nhập tái xuất.
  • Chính phủ (Bộ TN&MT) cần quy định danh mục các sản phẩm, bao bì khó có khả năng tái chế, chứa các chất độc hại hoặc ảnh hưởng quá trình thu gom, xử lý chất thải, bắt buộc phải thực hiện cơ chế đặt cọc - hoàn trả; quy định mức đặt cọc cho từng loại sản phẩm, bao bì trong danh mục; thiết lập và công bố các điểm thu hồi sản phẩm, bao bì; quy định trách nhiệm và phương thức thanh toán chi phí với các điểm thu hồi sản phẩm, bao bì. 

PGS.TS Lê Thu Hoa

Khoa Môi trường, Biến đổi khí hậu và Đô thị

Đại học Kinh tế Quốc dân

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 10/2020)

Tài liệu tham khảo

  • Calcott P and Walls M (2005), Waste, recycling, and ‘design for environment’: Roles for markets and policy instruments. Resource and Energy Economics 27: 287–305.
  • Viscusi WK, Huber J, and Bell J (2011) Promoting recycling: Private values, social norms, and economic incentives. American Economic Review Papers and Proceedings 101(3): 65–70.
  • Guangli Zhou, Yifan Gua, Yufeng Wu, Yu Gong, Xianzhong Mu, Hong gui Han and Tao Chang (2020), A systematic review of the deposit-refund system for beverage packaging: Operating mode, key parameter and development trend, Journal of Cleaner Production Volume 251, 119660.

Thống kê

Lượt truy cập: 3122938